Hoàng Đế nói:

Âm Dương là đạo của trời đất, là giường mối của muôn vật, là cha mẹ của sự biến hóa, là gốc ngọn của sự sinh sái, là cái kho chứa mọi sự thần minh Trị bệnh phải tìm tới gốc

9 dạng thể chất:

Thể chất mỗi người khác nhau dẫn đến tình trạng bệnh khác nhau, mỗi loại thể chất khác nhau, phương pháp phòng bệnh dưỡng sinh cũng khác nhau, nó cũng góp phần giúp thầy thuốc nhận định được thiên hướng gây bệnh nào đó trong các yếu tố gây bệnh của YHCT

Đại Y Thiền Sư Tuệ Tĩnh: "Nam dược trị nam nhân"

Ông nhấn mạnh tác dụng việc rèn luyện thân thể và sinh hoạt điều độ. Ông nêu phương pháp dưỡng sinh tóm tắt trong 14 chữ: "Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần - Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình"

Hải Thượng Lãn Ông:

“Suy nghĩ thật sâu xa tôi hiểu rằng thầy thuốc là bảo vệ sinh mạng cho con người, sống chết một tay mình nắm, hoạ phúc một tay mình giữ. Thế thì đâu có thể kiến thức không đầy đủ, đức hạnh không trọn vẹn, tâm hồn không rộng lớn, hành vi không thận trọng mà dám liều lĩnh học đòi cái nghề cao quý đó chăng”

Hải Thượng Lãn Ông:

"Đạo làm thuốc là một nhân thuật chuyên bảo vệ sinh mạng con người, phải lo cái lo của người, vui cái vui của người, chỉ lấy việc cứu sống mạng người làm nhiệm vụ của mình không nên cầu lợi kể công...”

Ngạn ngữ có câu:

“Cho thuốc không bằng cho phương”, vì thuốc chỉ cứu được một người, cho phương thì giúp đỡ người ta vô tận. Nhưng nghĩ cho kỹ, nếu trong phương có một vị không đúng thì hàng trăm nhà chịu tai hại. Huống chi viết lên sách, mỗi lời nói đều thành khuôn phép nhất định khó mà thay đổi được, nhỡ trong câu có điều sai lầm thì tai hại còn lớn hơn những bài thuốc nhiều

Hiển thị các bài đăng có nhãn Y thư. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Y thư. Hiển thị tất cả bài đăng

Chẩn pháp – Tố Vấn 09

CHẨN PHÁP – TỐ VẤN 09

Kinh văn:

Ngũ tạng giả trung chi thủ dã. Trung thịnh tạng mãn khí thịnh thương khủng giả, thanh như tùng thất trung ngôn, thị trung khí chi thấp dã. Ngôn nhi vi, chung nhật nãi phục ngôn giả, thử đoạt khí dã. Y bị bất liễm, ngôn ngữ thiện ác, bất tỵ thân sơ giả, thử thần minh chi loạn dã.

chan-phap-to-van-09
Chẩn pháp - Tố Vấn 09 - Ảnh chữ Hán
Dịch nghĩa:

Năm Tàng là cơ quan ẩn khuất ở bên trong, nhưng tiếng nói và sắc mặt, đôi phen vẫn phát hiện ra bên ngoài. Nếu trong bụng nhiều hơi thì có thể sinh ra hiện tượng trướng đầy, do thấp khí quá nhiều khiến cho cơ năng của thận bị tổn hại, khi ấy thủy thấp tràn ngập, tạo thành bệnh thũng, bệnh suyễn, từ đó nó ảnh hưởng đến âm ba bình thường nghe bệnh nhân nói văng vẳng như người ở trong nhà nói “vọng” ra đó là trung khí bị thấp khí xâm lấn. Nếu như tiếng nói của bệnh nhân thấp bé, giọng nói nhè nhẹ, nói vài tiếng cách quãng, lúc lâu rồi mới lại nói tiếp đó là mắc chứng đoạt khí (khí bị hao mất). Bệnh nhân tung bỏ chăn, lật bỏ áo, nói năng càn bậy, không kể gì người thân hay sơ... đó là thần minh (tức thần khí của 5 tàng) bị rối loạn.

Chẩn pháp – Tố Vấn 08

CHẨN PHÁP – TỐ VẤN 08

Kinh văn:

Xích sắc xuất lưỡng quyền, đại như mẫu chỉ giả, bệnh tuy tiểu dũ, tất thốt tử. Hắc sắc xuất vu đình, đại như mẫu chỉ, tất bất bệnh nhi thốt tử.

chan-phap-to-van-08
Chẩn pháp - Tố Vấn 08 - Ảnh chữ Hán
Dịch nghĩa:

Sắc đỏ xuất hiện nơi 2 gò má, to như ngón chân cái, dù bệnh có giảm đi nhưng vẫn chết đột ngột. Sắc đen thấy hiện tại thiên đình to bằng đầu ngón tay cái, tuy không rõ là bệnh tượng, nhưng rồi nhất định phát sinh chứng nguy hiểm, chết đột ngột.

Thuật dưỡng sinh – tố vấn 12

THUẬT DƯỠNG SINH – TỐ VẤN 12

Kinh văn 12:

Thị cố thánh nhân bất trị dĩ bệnh, trị vi bệnh; bất trị dĩ loạn, trị vi loạn, thử chi vị dã. Phu bệnh dĩ thành nhi hậu dược chi, loạn dĩ thành nhi hậu trị chi, thí do khát nhi xuyên tĩnh, đấu nhi chú chùy, bất diệc vãn hồ?

thuat-duong-sinh-to-van-12
Thuật dưỡng sinh - Tố vấn 12 - Ảnh minh họa
Dịch nghĩa:

Các bậc thánh nhân thời thượng cổ không “trị : để ý, nghiên cứu” cái đã bệnh; mà lo “trị” cái chưa bệnh. Không “trị” cái đã loạn mà lo “trị” cái chưa loạn, đúng với ý nghĩa trên đã nói. Ôi ! Đợi khi bệnh đã thành rồi mới dùng thuốc, đợi khi loạn đã thành rồi mới trị loạn, cũng ví như đợi khát rồi mới đào giếng, đợi lúc đánh nhau rồi mới đúc binh khí, như vậy, cũng chẳng là muộn lắm sao?

Thuật dưỡng sinh – tố vấn 11

THUẬT DƯỠNG SINH – TỐ VẤN 11

Kinh văn 11:

Âm chi sở sinh, bản tại ngũ vị; âm chi ngũ cung, thương tại ngũ vị. Thị cố vị quá vu toan, can khí dĩ tân, tỳ khí nãi tuyệt. Vị quá vu hàm, đại cốt khí lao, đoản cơ, tâm khí ức. Vị quá vu cam, tâm khí suyễn mãn, sắc hắc, thận khí bất hành. Vị quá vu khổ, tỳ khí bất nhu, vị khí nãi hậu. Vị quá vu tân, cân mạch tữ trì, tinh thần nãi ương. 
 
Thị cố cẩn hoà ngũ vị, cốt chính cân nhu, khí huyết dĩ thông, tấu lí dĩ mật, như thị tắc cốt khí dĩ tinh. Cẩn đạo như pháp, trường hữu thiên mệnh.

thuat-duong-sinh-to-van-11
Thuật dưỡng sinh - Tố vấn 11 - Ảnh minh họa

Dịch nghĩa:

Âm tinh sở dĩ sản sinh ra nguồn gốc là nhờ 5 vị ăn uống, nhưng 5 tạng tàng tinh lại có thể vì ăn uống thái quá mà tổn thương cho nên ăn đồ quá chua có thể làm can khí trội hẳn lên quá mà khắc hại tỳ thổ khiến tỳ suy kiệt. Ăn đồ quá mặn xương xẩu sẽ bị tổn hại, bắp thịt sẽ bị teo róc, tâm khí bị ức uất. Ăn đồ quá ngọt, tâm khí trội hẳn lên mà phiền muộn chẳng yên, sắc mặt đen xạm, thận khí không thể thăng bằng. Ăn đồ quá đắng tỳ khí không còn nhu nhuận, vị khí bị trướng mãn (dạ dày bị lình bình không tiêu). Ăn đồ quá cay khiến gân mạch trở trệ mà mềm dần, mặt tinh thần cũng bị ảnh hưởng.

Cho nên, nếu cẩn thận trong việc điều hòa ‘ngũ vị trong thức ăn’, cốt tiết sẽ được ngay thẳng, cân mạch được nhu hòa, khí huyết được lưu thông, tấu lý kín đáo, được vậy thì cốt khí được tinh cường. Mọi người nên cẩn trọng theo đúng với phép ‘dưỡng sinh’ thì tuổi trời của mình sẽ được hưởng trọn.

Thuật dưỡng sinh – tố vấn 10

THUẬT DƯỠNG SINH – TỐ VẤN 10

Kinh văn 10:

Ngũ lao sở thương : cửu thị thương huyết, cửu ngọa thương khí, cửu tọa thương nhục, cửu lập thương cốt, cửu hành thương cân, thị vị ngũ lao sử thương

thuat-duong-sinh-to-van-10
Thuật dưỡng sinh - Tố vấn 10 - Ảnh minh họa
Dịch nghĩa:

Con người khi sinh hoạt khởi cư quá độ, nhọc nhằn quá mức, có thể làm tổn thương ngũ tạng, tổn hại đến sức khỏe (gọi là năm sự thái quá làm thương đến năm Tạng) : Nhìn lâu làm thương đến huyết, nằm lâu làm thương đến khí, ngồi lâu làm thương đến nhục, đứng lâu làm thương đến cốt, đi lâu làm thương đến Cân. Các tình huống trên gọi là ngủ lao sở thương.

Thuật dưỡng sinh – tố vấn 09

THUẬT DƯỠNG SINH – TỐ VẤN 09

Kinh văn 9:

Cố dương khí giả, nhất nhật nhi chủ ngoại. Bình đán nhân khí sinh, nhật trung nhi dương khí long, nhật tây nhi dương khí dĩ hư, khí môn nãi bế.

Thị cố mộ nhi thu cự, vô nhiễu cân cốt, vô kiến vụ lộ, phản thử tam thời, hình nãi khốn bạc.

thuat-duong-sinh-to-van-09
Thuật dưỡng sinh - Tố vấn 09 - Ảnh minh họa
Dịch nghĩa:

Dương khí của con người ban ngày chủ bên ngoài. Lúc trời hừng sáng nhân khí của con người sinh ra, giữa trưa đúng ngọ là lúc dương khí thịnh lên, lúc mặt trời lặn về hướng tây là lúc dương khí đã hư, “khí môn” bắt đầu đóng lại.

Vì thế, khi đêm đến cần phải được nghỉ ngơi làm cho dương khí thu liễm (co rút lại), lông da híp chặt lại, không được nhiễu động gân cốt, không được chạm đến sương móc, nếu chúng ta sống nghịch lại với “3 thì” đó, hình thể chúng ta từ đó mà phát sinh mõi mệt suy nhược.

Thuật dưỡng sinh – tố vấn 08

THUẬT DƯỠNG SINH – TỐ VẤN 08

Kinh văn 8:

Cố phong giả, bách bệnh chi thủy dã, thanh tĩnh tắc nhục tắc bế cự, tuy hữu đại phong hà độc, phất chi năng hại, thử nhân thời chi tự dã.

thuat-duong-sinh-to-van-08
Thuật dưỡng sinh - Tố vấn 08 - Ảnh minh họa
Dịch nghĩa:

Phong tà tuy là nguyên nhân bắt đầu của trăm bệnh, nhưng nếu như các mặt hoạt đông tư tưởng thể lực lao động của chúng ta đều có thể điều tiết tốt, thì cơ nhục và tấu lý được đóng lại và giữ gìn cẩn thận, dù cho có những đại phong có tính hà khắc, độc hại cũng không thể nào hại chúng ta được. Đó là nhờ chúng ta thích ứng được với sự thuận tự của tứ thời vậy.

Bệnh năng - Tố Vấn 10

BỆNH NĂNG - TỐ VẤN 10

Kinh văn:

benh-nang-to-van-10
Bệnh năng - Tố Vấn 10 a - Hình ảnh chữ Hán
Thị dĩ xuân thương vu phong, tà khí lưu liên, nãi vi động tiết. Hạ thương vu thử, thu vi giai ngược. Thu thương vu thấp, thượng nghịch nhi khái, phát vi ủy quyết. Đông thương vu hàn, xuân tất ôn bệnh. Tứ thời chi khí, canh thương ngũ tạng.

benh-nang-to-van-10
Bệnh năng - Tố Vấn 10 b - Hình ảnh chữ Hán
Dịch nghĩa:

Ngày xuân bị thương bởi phong tà, tuy lúc ấy chưa phát sinh bệnh tật, nhưng tà khí đó lưu luyến không đi, đến một thời gian nhất định sẽ phát sinh đi tiêu chảy. Ngày hè phạm phải thử tà, đến mùa thu sẽ phát sinh sốt rét. Nếu mùa thu bị thương bởi thấp tà, nó sẽ nghịch lên trên mà phát sinh ho hắng, sau sẽ thành chứng nuy quyết (bại xụi). Ngày mùa đông bị thương bởi hàn khí, mùa xuân sẽ thành bệnh ôn bệnh. Tính chất của khí hậu 4 mùa đều có khác nhau, sự ảnh hưởng đến nội tạng nhân thể cũng do đó mà có khác nhau.

Bệnh năng - Tố Vấn 09

BỆNH NĂNG - TỐ VẤN 09

Kinh văn:

Nhân vu hàn, dục như vận khu, khởi cư như kinh, thần khí nãi phù. Nhân vu thử, hãn, phiền tắc suyễn hát, tĩnh tắc đa ngôn, thể nhược phiền thán, hãn xuất nhi tán. 

benh-nang-to-van-09
Bệnh năng - Tố Vấn 09 a - Hình ảnh chữ Hán
Nhân vu thấp, thủ như khỏa, thấp nhiệt bất nhương, đại cân nhuyễn đoản, tiểu cân trì trướng. nhuyễn đoản vi câu, trì trướng vi nuy. Nhân vu khí, vi thủng, tứ duy tương đại, dương khí nãi kiệt

benh-nang-to-van-09
Bệnh năng - Tố Vấn 09 b - Hình ảnh chữ Hán
Dịch nghĩa:

Con người khi gặp phải khí hàn, tức thì dương khí từ bên trong ứng ra để cản lại – sự ứng ra ấy nhanh chóng như xoay cối cửa (nên gọi là vận khu), nếu như làm lụng nghỉ ngơi không chừng mực, rất dễ làm cho thần khí không nội thủ mà bốc ra ngoài. (không còn giữ được dương khí nữa). Cảm phải nắng nóng thời nhiều mồ hôi, buồn phiền vật vả và thỉnh thoảng khẹt khẹt mà suyễn, khi ngưng lặng thì lắm lời, khắp mình phát sốt như lửa đốt sau khi đỗ mồ hôi thì sốt lui mình mát. 

Cảm phải thấp tà (khí ẩm) đầu đau như bó, nếu thấp phạm vào dương khí, nhân đó mà hóa nhiệt, dương khí vốn là một vật nhuần nuôi các đường gân, giờ dương khí bị thương gân sẽ mắc bệnh. Các gân nhỏ co rút lại, các gân lớn buông chùng ra, thành ra bệnh câu loan và túng thỉ (co quắp rã rời không cử động được). Có khi lại sưng thũng cả tứ chi (bởi dương khí không vận hành ra tứ chi nên sưng thũng).Gân bị co rút và ngắn lại gọi là ‘câu’; Gân bị giãn ra mà dài ra gọi là ‘nuy’. Nếu khí hư chứng trạng biểu hiện chân tay thủng trướng, thế sưng nay chỗ này mai chỗ khác, đó là tình trạng dương khí đã suy kiệt rồi.

Thuật dưỡng sinh - tố vấn 07

THUẬT DƯỠNG SINH – TỐ VẤN 07

Kinh văn 7:

Tặc phong số chí, bạo vũ số khởi, thiên địa tứ thời bất tương bảo, dữ đạo tương thất, tắc vị ương tuyệt diệt.

thuat-duong-sinh-to-van-07
Thuật dưỡng sinh - Tố vấn 07a - Ảnh minh họa
Duy thánh nhân tòng chi, cố thân vô kỳ bệnh, vạn vật bất thất, sinh khí bất kiệt.

thuat-duong-sinh-to-van-07
Thuật dưỡng sinh - Tố vấn 07b - Ảnh minh họa
Dịch nghĩa:

Gió dữ cuộn đến, mưa bạo ào rơi, bốn mùa trong trời đất không giữ được sự di chuyển bình thường, mất hẳn quy luật bình thường của nó, cho nên vạn vật phải bị ảnh hưởng, không thể sinh trưởng bình thường, đến nữa đường phải tử vong mất.

Hoàn cảnh ác liệt như thế, duy chỉ có bậc thánh nhân thông đạt sự lý mới có thể thích ứng, mới có thể trốn tránh, vì thế họ giữ được thân mình không để phát sinh bệnh tật, vẫn không sai với quy luật phát triển của vạn vật, cho nên cơ hội sống không đoạn tuyệt được.

Thuật dưỡng sinh – tố vấn 06

THUẬT DƯỠNG SINH – TỐ VẤN 06

Kinh văn 6:

Phu tứ thời âm dương giả, vạn vật chi căn bản dã. Sở dĩ thánh nhân xuân hạ dưỡng dương, thu đông dưỡng âm, dĩ tòng kỳ căn; cố dữ vạn vật trầm phù vu sinh trưởng chi gian. Nghịch kỳ căn tắc phạt kỳ bản, hoại kỳ chân hỷ.

thuat-duong-sinh-to-van-06

Thuật dưỡng sinh - Tố vấn 06a - Ảnh minh họa
Cố âm dương tứ thời giả, vạn vật chi chung thủy dã; sinh tử chi bản dã; nghịch chi tắc tai hại sinh, tòng chi tắc hà tật bất khởi, thị vị đắc đạo.

thuat-duong-sinh-to-van-06

Thuật dưỡng sinh - Tố vấn 06b - Ảnh minh họa
Dịch nghĩa:

Sự biến hóa âm dương trong 4 mùa là căn bản sinh, trưởng, hóa, thu, tàng của vạn vật. Cho nên bậc thánh nhân đến mùa xuân và mùa hạ thì bảo dưỡng Dương khí, đến mùa thu và mùa đông thì bảo dưỡng Âm khí, tức là bồi dưỡng ngay từ nơi gốc rễ, cho nên mới có thể cùng với muôn vật cùng chìm nổi trong vòng sinh trưởng. Nếu sống nghịch lại với cái căn, đó là chặt đứt cái “bản”, là hủy hoại cái “chân” vậy.

Cho nên nói rằng hai khí Âm Dương vận hành trong bốn mùa là nơi chung thỉ của vạn vật, là cái gốc của việc sống chết ; trái nó thì tai hại sẽ sinh ra, thuận nó thì tật bệnh không mắc phải, nếu hiểu được rành rẽ điềm ấy có thể nói đã hiểu được đạo lý dưỡng sinh, đó gọi là ‘đắc Đạo’.

Thuật dưỡng sinh – tố vấn 05

THUẬT DƯỠNG SINH – TỐ VẤN 05

Kinh văn 5:

Thượng cổ hữu CHÂN NHÂN giả, đề khiết thiên địa, bả ác âm dương, hô hấp tinh khí, độc lập thủ thần, cơ nhục nhược nhất, cố năng thọ tệ thiên địa, vô hữu chung thời, thử kỳ đạo sinh.

thuat-duong-sinh-to-van-05

Thuật dưỡng sinh - Tố vấn 05a - Ảnh minh họa
Trung cổ chi thời, hữu CHÍ NHÂN giả, thuần đức toàn đạo, hoà vu âm dương, điều vu tứ thời, khứ thế ly tục, tích tinh toàn thần, du hành thiên địa chi gian, thị thính bát viễn chi ngoại, thử cái ích kỳ thọ mệnh nhi cường giả dã, diệc quy vu chân nhân.

Kỳ thứ hữu THÁNH NHÂN giả, xứ thiên địa chi hoà, tòng bát phong chi lý, thích thị dục vu thế tục chi gian, vô huệ sân chi tâm, hành bất dục ly vu thế, bị phục chương, cử bất dục thị vu tục, ngoại bất lao hình vu sự, nội vô tư tưởng chi hoạn, dĩ điềm du vi vụ, dĩ tự đắc vi công, hình thể bất tệ, tinh thần bất tán, diệc khả dĩ bách số.

thuat-duong-sinh-to-van-05
Thuật dưỡng sinh - Tố vấn 05b - Ảnh minh họa
Kỳ thứ hữu HIỀN NHÂN giả, pháp tắc thiên địa, tượng tự nhật nguyệt, biện liệt tinh thần, nghịch tòng âm dương, phân biệt tứ thời, tương tòng thượng cổ hợp đồng vu đạo, diệc khả sử ích thọ nhi hữu cực thời.

Dịch nghĩa:

Bậc chân nhân thì thượng cổ nắm vững huyền cơ tạo hóa, quy luật biến hóa của âm dương, thở ra hít vào toàn là tinh khí, khác hẳn mọi người, tinh thần họ vững chải bên trong, hài hòa với nhịp điệu hình vóc tóc da bên ngoài, trước sau đều nhất quán. Cho nên họ sống quá tuổi thọ của Thiên Địa không có lúc chấm dứt, đó là do ở tu dưỡng đúng Đạo mà được như vậy.

thuat-duong-sinh-to-van-05

Thuật dưỡng sinh - Tố vấn 05c - Ảnh minh họa
Bậc chí nhân giữ đức được thuần, giữ đạo được toàn, hiểu biết toàn vẹn đạo lý dưỡng sinh, sinh hoạt của họ hòa với quy luật âm dương, biến hóa thích ứng được với thời tiết, khí hậu thay đổi bốn mùa. Tâm họ xa rời được những phiền toái của cuộc đời, thân tránh khỏi bị phiền nhiễu bởi thế tục, tích chứa được cái tinh, bảo toàn được cái thần, đi rong chơi trong cõi trời đất, nghe thấy trong cõi xa của tám phương, đây chính là phép làm cho tăng thêm tuổi thọ để được mạnh khỏe vậy, những bậc này cũng sẽ có thể quay về với các bậc chân nhân.

Lại có bậc thánh nhân, họ đứng được trong cái hòa của trời đất, theo được cái lý của tám phương, thích ứng được với lòng ham muốn trong khoảng thế tục, không có cái Tâm tức giận sân si, hành động của họ không xa rời với cuộc đời, cử chỉ họ không tách rời thế tục, quần áo may mặc đều theo nếp sống chung, không đua đòi theo thời trang, xác thịt bên ngoài không lao lực quá sức, bên trong không có cái lo lắng về tư tưởng, lấy sự điềm tĩnh, vui vẻ làm nhiệm vụ, lấy việc thực hiện cái Đạo là công lao, hình thể họ không bị che lấp, tinh thần họ không bị phân tán, được vậy họ cũng sẽ sống được trăm tuổi.

Còn có bậc hiền nhân, họ bắt chước theo lẽ vận hành của trời đất, mô phỏng theo cái tượng của mặt trời mặt trăng, sống theo sự thay đổi của Thiên vận, theo đúng lẽ nghịch tùng của âm dương, phân biệt rõ sự thay đổi của bốn mùa, họ theo đúng được với nếp sống của người thượng cổ, thích hợp và đồng điệu với Thiên Đạo, được như thế họ cũng có thể làm tăng tuổi thọ đến chỗ cao nhất.

Thuật dưỡng sinh – tố vấn 04

THUẬT DƯỠNG SINH – TỐ VẤN 04 

Kinh văn 4:

Xuân tam nguyệt, thử vi phát trần. Thiên địa câu sinh, vạn vật dĩ vinh, dạ ngoạ tảo khởi, quảng bộ vu đình, bị phát hoãn hình, dĩ sử chí sinh, sinh nhi vật sát, dự nhi vật đoạt, thưởng nhi vật phạt, thử xuân khí chi ứng, dưỡng sinh chi đạo dã; nghịch chi tắc thương can, hạ vi thực hàn biến, phụng trưởng giả thiểu.

thuat-duong-sinh-to-van-04

Thuật dưỡng sinh - Tố vấn 04a - Ảnh chữ Hán
Hạ tam nguyệt, thử vi phồn tú. Thiên địa khí giao, vạn vật hoa thực, dạ ngoạ tảo khởi, vô yếm vu nhật, sử chí vật nộ, sử hoa anh thành tú, sử khí đắc tiết, nhược sở ái tại ngoại, thử hạ khí chi ứng, dưỡng trưởng chi đạo dã; nghịch chi tắc thương tâm, thu vi giai ngược, phụng thu giả thiểu, đông chí trọng bệnh.

thuat-duong-sinh-to-van-04

Thuật dưỡng sinh - Tố vấn 04b - Ảnh chữ Hán
Thu tam nguyệt, thử vị dong bình. Thiên khí dĩ cấp, địa khí dĩ minh, tảo ngoạ tảo khởi, dữ kê câu hưng, sử chí an ninh, dĩ hoãn thu hình, thu liễm thần khí, sử thu khí bình, vô ngoại kỳ chí, sử phế khí thanh, thử thu khí chi ứng, dưỡng thu chi đạo dã; nghịch chi tắc thương phế, đông vi sôn tiết, phụng tàng giả thiểu.

thuat-duong-sinh-to-van-04

Thuật dưỡng sinh - Tố vấn 04c - Ảnh chữ Hán
Đông tam nguyệt, thử vi bế tàng. Thủy băng địa sách, vật nhiễu hồ dương, tảo ngoạ vãn khởi, tất đãi nhật quang, sử chí nhược phục nhược nặc, nhược hữu tư ý, nhược dĩ hữu đắc, khứ hàn tựu ôn, vô tiết bì phu, sử tiết cực đoạt. Thử đông khí chi ứng, dưỡng tàng chi đạo dã, nghịch chi tắc thương thận, xuân vi nuy quyết, phụng sinh giả thiểu.

thuat-duong-sinh-to-van-04

Thuật dưỡng sinh - Tố vấn 04d - Ảnh chữ Hán
Dịch nghĩa:

Ba tháng mùa xuân là lúc phô bầy cái mới mẻ. Trời đất đều đang lúc sinh, vạn vật được tươi tốt. Con người nên đi ngủ muộn và thức dậy sớm, đi bộ trong sân, xõa tóc với dáng điệu hòa hoãn, tất cả nhằm làm cho cái chí với mình được sinh ra. Chúng ta chỉ nên làm những hành động giúp cho sự sống (sinh) mà không nên làm những hành động sát diệt, nên phát triển chứ không nên chiếm đoạt, nên thưởng thức chứ không nên phạt. Làm như thế mới là thích ứng với xuân khí, cũng là đạo “dưỡng sinh ” vậy. Nếu nghịch lại, sẽ làm thương đến Can, đến mùa Hạ sẽ bị bệnh hàn, đó là vì xuân khí không ‘ phụng ‘ đủ khí ‘hạ trưởng ‘ cho mùa hạ

Ba tháng mùa hạ vạn vật sum sê tươi tốt, khí của Trời Đất giao nhau, vạn vật đơm hoa kết trái, con người nên đi ngủ muộn và thức dậy sớm, đừng trễ lười vào những ngày hạ. Tất cả nhằm làm cho cái chí của mình đừng ‘nộ’, làm cho anh hoa được chín đẹp. Phải để cho hạ khí trong người thoát bớt ra ngoài, giống như là nó đi chơi ra ngoài một cách thích thú. Đó là chúng ta ứng với hạ khí, cũng là Đạo ‘dưỡng trưởng’. Nếu nghịch lại sẽ làm thương đến Tâm, sang mùa thu sẽ bị bệnh sốt rét, đó là vì hạ khí không ‘phụng’ đủ khí ‘thu Thâu’ cho mùa thu, mùa đông đến sẽ bị trọng bệnh.

Ba tháng mùa thu vạn vật thịnh hoa trái chín rụng, khí trời mát mẻ gió thổi siết, khí đất trong trẻo vạn vật biến sắc. Con người nên đi ngủ sớm và dậy sớm như gà, cứ hễ trời sập tối thì đi ngủ, trời hừng sáng thì thức dậy. Tất cả nhằm làm cho cái chí của mình được an tĩnh an nhàn, để hòa hoãn với khí hậu heo hắt của mùa Thu có ảnh hưởng đến cơ thể con người. Nên thu liễm Thần khí lại, làm cho chúng ta thích ứng được với khí dung bình của mùa thu, đừng để cho chí của mình thoát ra ngoài, làm cho Phế khí được thanh, đó là chúng ta thích ứng được với thu khí, cũng là Đạo “dưỡng thu” vậy. Nếu nghịch lại sẽ làm thương đến Phế, mùa đông sẽ bị bệnh tiêu chảy, đó là vì thu khí không “phụng” đủ khí “đông tàng” cho mùa đông.

Ba tháng mùa đông vạn vật bế tạng, nước đóng băng, đất nứt nẻ, chúng ta không nên làm nhiễu loạn dương khí, nên ngủ sớm, dậy muộn, phải đợi có mặt trời rồi mới dậy, tất cả đều làm cho chí của mình như núp như trốn, như có ý riêng tư khó thố lộ. Phải tránh lạnh tìm ấm, đừng để cho dương khí thoát ra ngoài bì phu, khiến cho chân khí bị hao tổn một cách nhanh chóng, đó là chúng ta thích ứng được với đông khí, cũng là Đạo “dưỡng tạng”. Nếu nghịch lại sẽ làm thương đến Thận, đến mùa xuân sẽ bị bệnh ‘nuy quyết’ (chân tay mềm xuội không có sức), đó là vì đông khí không “phụng” đủ khí “xuân sinh” cho mùa xuân.

Thuật dưỡng sinh – tố vấn 03

THUẬT DƯỠNG SINH – TỐ VẤN 03

Kinh văn 3:

Phu thượng cổ thánh nhân chi giáo hạ dã, giai vị chi hư tà tặc phong, tị chi hữu thời, điềm đạm hư vô, chân khí tòng chi, tinh thần nội thủ, bệnh an tòng lai. Thị dĩ chí nhàn nhi thiểu dục, tâm an nhi bất cụ, hình lao nhi bất quyện, khí tòng dĩ thuận, các tòng kỳ dục, giai đắc sở nguyện.

thuat-duong-sinh-to-van-03

Thuật dưỡng sinh - Tố vấn 03 - Ảnh chữ Hán
Dịch nghĩa:

Thời thượng cổ, bậc thánh nhân dạy người dân dưới mình, muốn cho họ đều phải rõ về tai hại của hư tà, tặc phong, muốn cho họ tùy theo thời tiết mà trốn tránh kịp thời, và chú ý bảo dưỡng mặt tinh thần, phải giữ lòng điềm đạm, hư vô, phải sống đúng với chân khí mình. Tinh thần có giữ được bên trong thì bệnh làm sao có thể đến được.

thuat-duong-sinh-to-van-03

Thuật dưỡng sinh - Tố vấn 03a - Ảnh chữ Hán
Được vậy thì chí sẽ nhàn mà ít ham muốn, tâm được an mà không sợ sệt, hình thể nhọc nhằn mà không mệt mỏi, khí được theo với lẽ thuận, mọi việc theo đúng ý muốn của mình và đều được toại nguyện.

thuat-duong-sinh-to-van-03

Thuật dưỡng sinh - Tố vấn 03b - Ảnh chữ Hán

Thuật dưỡng sinh – tố vấn 02

THUẬT DƯỠNG SINH – TỐ VẤN 02  

Kinh văn 2:

Phong vũ hàn nhiệt bất đắc hư, tà bất năng độc thương nhân. Thốt nhiên phùng tật phong bạo vũ nhi bất bệnh giả, cái vô hư, cố tà bất năng độc thương nhân. Thử tất nhân hư tà chi phong, dữ kỳ thân hình, lưỡng hư tương đắc, nãi khách kỳ hình.

thuat-duong-sinh-to-van-02

Thuật dưỡng sinh - Tố vấn 02 - Ảnh chữ Hán

Dịch nghĩa:

Gió mưa nóng rét, nếu không phải là thân thể bị hư nhược, thì nó không thể làm thương đến con người được. Đột nhiên gặp phải tặc phong, bạo vũ (gió táp, mưa sa) mà chẳng phát sinh bệnh tật, đó là do thân thể người ấy không hư nhược, cho nên 1 mình tà khí không thể gây bệnh được. Đây muốn nói rằng, phải do phong khí đóng vai hư tà rồi gặp thân người đang bị hư nhược, cả hai loại hư gặp gỡ nhau, bấy giờ hư tà của phong mới nhập vào thân thể để gây bệnh được.

Thuật dưỡng sinh – Tố Vấn 01

THUẬT DƯỠNG SINH - TỐ VẤN 01

Kinh văn 1:

Dư văn thượng cổ chi nhân, xuân thu giai độ bách tuế, nhi độ tác bất suy; Kim thời chi nhân, niên bán bách nhi động tác giai suy giả, thời thế dị da? Nhân tương thất chi da?

thuat-duong-sinh-to-van-01

Thuật dưỡng sinh - Tố vấn 01
Kỳ bá đối viết:
Thượng cổ chi nhân, kỳ tri đạo giả, pháp vu âm dương, hoà vu thuật số, ẩm thực hữu tiết, khởi cư hữu thường, bất vọng tác lao, cố năng hình dữ thần câu, nhi tận chung kỳ thiên niên, độ bách tuế nãi khứ. 

Kim thời chi nhân bất nhiên dã, dĩ tửu vi tương, dĩ vọng vi thường, túy dĩ nhập phòng, dĩ dục kiệt kỳ tinh, dĩ hao tán kỳ chân, bất tri kỳ mãn, bất thời ngự thần, vụ khoái kỳ tâm, nghịch vu sinh lạc, khởi cư vô tiết, cố bán bách nhi suy dã.

thuat-duong-sinh-to-van-01

Thuật dưỡng sinh - Tố vấn 01 - Ảnh chữ Hán
Dịch nghĩa:

“Ta nghe rằng người thì thượng cổ tuổi tác có đến trăm tuổi mà động tác vẫn không suy yếu, người thì nay tuổi mới nửa trăm mà động tác đều suy yếu. Đó là vì thời thế khác nhau ư ? Hay là con người sắp mất đi sự hòa điệu âm dương?

thuat-duong-sinh-to-van-01

Thuật dưỡng sinh - Tố vấn - Ảnh chữ Hán
Kỳ Bá đáp: “ Người thì thượng cổ đều biết đạo dưỡng, họ bắt chước theo lẽ biến hóa của âm dương, hòa hợp được với thuật luyện tinh khí, ăn uống có điều độ, thức ngủ theo lẽ thường, không lao động mệt nhọc một cách cẩu thả, do đó hình thể và thần khí của họ đầy đủ để có thể sống trọn tuổi trời, trăm tuổi mới chết. 

Người thì nay thì không thế, họ lấy rượu làm thức uống, lấy sự cẩu thả làm lẽ thường, say sưa rồi giao hợp, lấy sắc dục làm cho tinh khí bị hao kiệt, hao tổn đến chân khí, họ không biết giữ vững cái chén đầy, không theo đúng sự thay đổi khí tiết bốn mùa để bảo dưỡng tinh thần, họ chỉ muốn làm cho khoái cái tâm, làm nghịch lại cái vui chân thực, họ thức ngủ không điều độ, do đó mà tuổi mới nửa trăm thì đã suy yếu vậy.

Âm dương ngũ hành – Tố Vấn 11

ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH – TỐ VẤN 11 

Kinh văn: 

Thiên hữu tứ thời ngũ hành, dĩ sinh trưởng thu tàng, dĩ sinh hàn thử táo thấp phong. Nhân hữu ngũ tạng hóa ngũ khí, dĩ sinh hỉ nộ bi ưu khủng. 

am-duong-ngu-hanh-to-van-11

Âm dương ngũ hành - Tố Vấn 11 - Ảnh chữ Hán

Dịch nghĩa:

Trong tự nhiên giới có 4 mùa xuân hạ thu đông đổi thay, có 5 hành mộc hỏa thổ kim thủy biến hóa khác nhau do đó sản sinh ra khí hậu hàn thử táo thấp phong, nó ảnh hưởng đến vạn vật trong tự nhiên giới, hình thành quy luật sinh trưởng thu tàng.

Ở con người chúng ta cơ năng sinh lý của 5 tạng trong cơ thể có thể sản sinh ra 5 thứ hoạt động tinh thần hỉ nộ bi ưu khủng khác nhau.

Chẩn pháp – Tố Vấn 07

 CHẨN PHÁP – TỐ VẤN 07 

Kinh văn: 

Phàm tướng ngũ sắc chi kỳ mạch, diện hoàng mục thanh, diện hoàng mục xích, diện hoàng mục bạch, diện hoàng mục hắc giả, giai bất tử giả. Diện thanh mắt đỏ, diện xích mục bạch, diện thanh mục hắc, diện hắc mục bạch, diện xích mục thanh, giai tử dã. 

chan-phap-to-van-07
Chẩn pháp - Tố Vấn 07 - Ảnh chữ Hán

Dịch nghĩa: 

Phàm xét những mạch Cơ kinh thuộc về ngũ sắc, tròng trắng trong mắt hoặc xung quanh hố mắt xuất hiện sắc xanh, sắc đỏ, sắc trắng, sắc đen, mà mặt lại sắc vàng … đều không chết. 

Nếu mặt thấy sắc xanh, mắt đỏ; mặt đỏ, mắt trắng; mặt xanh, mắt đen; mặt đen, mắt trắng; mặt đỏ, mắt xanh ... đều là dấu hiệu sắp chết.
 
Chú giải: 

Cơ kinh tức là nói về mạch sắc của mạch xung nhâm, xung nhâm là cái bễ của kinh huyết, huyết của 5 tạng đều dồn cả vào can, cho nên hiện ra bên ngoài ta thấy ở mắt. Mặt chủ về khí sắc, mắt chủ về huyết sắc, nhân 5 sắc ở mắt mà đều thấy có mặt vàng đó là âm của 5 tạng vẫn còn có dương của vị quản nên không chết. 

Người ta không có vị khí thời chết, mặt không có sắc vàng tức là không có vị khí, ở mặt mà ta chỉ thấy những sắc xanh đen và đỏ vv ... đó là tàn tà lấn dương, chỉ có âm mà không có dương, nên người đoán là đều chết. 

Trị tắc – Tố Vấn 03

TRỊ TẮC – TỐ VẤN 03

Kinh văn:

Cố tà phong chi chí, tật như phong vũ, cố thiện trị giả trị bì mao, kỳ thứ trị cơ phu, kỳ thứ trị cân mạch, kỳ thứ trị lục phủ, kỳ thứ trị ngũ tạng. Trị ngũ tạng giả, bán tử bán sinh dã. 

Cố thiên chi tà khí cảm, tắc hại nhân ngũ tạng; thủy cốc chi hàn nhiệt cảm, tắc hại vu lục phủ; địa chi thấp khí cảm, tắc hại bì nhục cân mạch. 

tri-tac-to-van-03
Trị tắc - Tố Vấn 03 - Hình ảnh chữ Hán

Dịch nghĩa:

Phong tà xâm nhập nhân thể, tựa như mưa to gió lớn, từ da lông rồi truyền biến dẫn tới nội tạng, cho nên người chữa bệnh giỏi cần phải chữa trị ngay từ lúc tà còn ở da lông, ở thớ thịt, ở gân mạch, ở lục phủ, ở ngũ tạng. Bệnh tà xâm nhập càng sâu thì việc chữa trị càng khó khăn. Bệnh tà đã xâm nhập vào tới ngũ tạng, thì bệnh tình đã rất nghiêm trọng, thì một nửa bị chết và chỉ có thể cứu sống được một nửa.

Nếu cảm nhiễm phải tà khí của trời, thì sẽ hại tới năm tạng, nếu cảm nhiễm về sự nóng hay lạnh của loài thủy cốc thì sẽ hại tới sáu phủ. Nếu cảm nhiễm phải thấp khí của đất, thì sẽ hại tới bì, nhục, cân, mạch.

Đoạn kinh văn này là chỉ cho ta phải căn cứ vào bệnh biến ở chỗ nông ở chỗ sâu mà chọn cách chữa trị thích đáng, hơn nữa phải chữa sớm chữa kịp thời, thực thi ngay các biện pháp điều trị hữu hiệu. Nếu không điều trị kịp thời, hoặc chữa sai, chăm sóc không chu đáo, khiến bệnh tà từ bì mao thâm nhập sâu, làm tổn thương tạng phủ, thành loại bệnh nặng, diễn biến phức tạp, điều trị rất khó khăn và khả năng chữa khỏi bệnh đã giảm đi nhiều.

Bệnh năng - Tố Vấn 08

BỆNH NĂNG - TỐ VẤN 08

Kinh văn:

Dương khí giả, phiền lao tắc trướng, tinh tuyệt, tịch tích vu hạ, sử nhân tiễn quyết; mục hoang bất khả dĩ thị, nhỉ bế bất khả dĩ thính, hội hội hồ nhược hoại đô, mịch mịch hồ bất khả chỉ.

benh-nang-to-van-08
Bệnh năng - Tố Vấn 08 - Hình ảnh chữ Hán

Dịch nghĩa:

Dương khí trong con người, nếu bị phiền và lao nhọc thì sẽ bị căng thẳng, tinh khí bị tuyệt, và nếu cứ lập lại nhiều lần như thế cho đến mùa hạ, khí trời viêm nhiệt chồng chất cơ thể bèn mất hết năng lực thích ứng, sẽ sinh ra chứng ‘tiễn quyết’; chứng trạng chủ yếu của nó là hai mắt sẽ mờ không thấy vật, 2 tai hết tỏ không nghe được âm thanh, đấy là biểu hiện tinh khí đều thoát cả hai, mức độ rất nặng, giống y như đê điều bị sạt lở, nước ào vô mà không ngăn nổi, cuồn cuộn như dòng nước trôi đi mà không dừng lại.

Bệnh chứng thuốc

Hải thượng lãn ông

Tin tức

Chẩn pháp

Âm dương ngũ hành

Châm cứu

Dưỡng sinh

 

0905 136463

Chào bạn, bạn cần hổ trợ gì