Hoàng Đế nói:

Âm Dương là đạo của trời đất, là giường mối của muôn vật, là cha mẹ của sự biến hóa, là gốc ngọn của sự sinh sái, là cái kho chứa mọi sự thần minh Trị bệnh phải tìm tới gốc

9 dạng thể chất:

Thể chất mỗi người khác nhau dẫn đến tình trạng bệnh khác nhau, mỗi loại thể chất khác nhau, phương pháp phòng bệnh dưỡng sinh cũng khác nhau, nó cũng góp phần giúp thầy thuốc nhận định được thiên hướng gây bệnh nào đó trong các yếu tố gây bệnh của YHCT

Đại Y Thiền Sư Tuệ Tĩnh: "Nam dược trị nam nhân"

Ông nhấn mạnh tác dụng việc rèn luyện thân thể và sinh hoạt điều độ. Ông nêu phương pháp dưỡng sinh tóm tắt trong 14 chữ: "Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần - Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình"

Hải Thượng Lãn Ông:

“Suy nghĩ thật sâu xa tôi hiểu rằng thầy thuốc là bảo vệ sinh mạng cho con người, sống chết một tay mình nắm, hoạ phúc một tay mình giữ. Thế thì đâu có thể kiến thức không đầy đủ, đức hạnh không trọn vẹn, tâm hồn không rộng lớn, hành vi không thận trọng mà dám liều lĩnh học đòi cái nghề cao quý đó chăng”

Hải Thượng Lãn Ông:

"Đạo làm thuốc là một nhân thuật chuyên bảo vệ sinh mạng con người, phải lo cái lo của người, vui cái vui của người, chỉ lấy việc cứu sống mạng người làm nhiệm vụ của mình không nên cầu lợi kể công...”

Ngạn ngữ có câu:

“Cho thuốc không bằng cho phương”, vì thuốc chỉ cứu được một người, cho phương thì giúp đỡ người ta vô tận. Nhưng nghĩ cho kỹ, nếu trong phương có một vị không đúng thì hàng trăm nhà chịu tai hại. Huống chi viết lên sách, mỗi lời nói đều thành khuôn phép nhất định khó mà thay đổi được, nhỡ trong câu có điều sai lầm thì tai hại còn lớn hơn những bài thuốc nhiều

Hiển thị các bài đăng có nhãn Nội khoa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nội khoa. Hiển thị tất cả bài đăng

Bệnh chứng thuốc điều trị huyết áp cao

BỆNH CHỨNG THUỐC ĐIỀU TRỊ HUYẾT ÁP CAO

I. ĐẠI CƯƠNG

- Huyết áp cao là một hội chứng lâm sàng do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên, nói lên tình trạng gia tăng áp lực của máu trong các động mạch của đại tuần hoàn.

- Theo tổ chức Y Tế thế giới (OMS - WHO), ở người lớn có huyết áp (HA) bình thường, nếu huyết áp động mạch tối đa < 140mmHg và HA động mạch tối thiểu < 90mmhg. HA cao khi huyết áp động mạch tối đa ≥ 160 mmHg và huyết áp động mạch tối thiểu ≥ 95 mmHg. HA động mạch tối đa còn gọi là HA tâm thu, HA động mạch tối thiểu còn gọi là HA tâm trương

Phân loại huyết áp cao chủ yếu, bao gồm:

1. Dựa theo định nghĩa

- Huyết áp cao giới hạn khi trị số huyết áp trong khoảng 140/90 < PA < 160/95 mmHg

- Huyết áp cao tâm thu khi huyết áp động mạch tối đa (PAs) lớn hơn 160 mmHg và huyết áp động mạch tối thiểu (PAd) nhỏ hơn 90 mmHg.

- Huyết áp cao tâm trương khi huyết áp động mạch tối đa (PAs) thấp hơn 140 mmHg và huyết áp động mạch tối thiểu (PAd) cao hơn 95 mmHg.

2. Dựa vào tình trạng biến thiên của trị số huyết áp.

− Huyết áp cao thường xuyên, có thể phân thành huyết áp cao ác tính và huyết áp cao lành tính.

− Huyết áp cao cơn: trên cơ sở huyết áp bình thường hoặc gần bình thường, bệnh xuất hiện với những cơn cao vọt, những lúc này thường có tai biến.

− Huyết áp cao dao động: con số huyết áp có thể lúc tăng, lúc không tăng (OMS khuyên không nên dùng thuật ngữ này và nên xếp vào loại giới hạn vì tất cả các trường hợp huyết áp cao đều ít nhiều dao động).

3. Dựa vào nguyên nhân.

− Huyết áp cao nguyên phát (không có nguyên nhân), ở người cao tuổi.

− Huyết áp cao thứ phát (có nguyên nhân), phần lớn ở trẻ em và người trẻ tuổi.

Đặc điểm dịch tễ học.

Ở châu Âu và Bắc Mỹ tỷ lệ người lớn mắc bệnh từ 15 - 20%. Theo một công trình của Tcherdakoff thì tỷ lệ này là 10-20%. Ở Việt Nam tỷ lệ người lớn mắc bệnh huyết áp cao là 6 - 12%.

Bệnh huyết áp cao nguyên phát là bệnh của “thời đại văn minh”. Có lẽ huyết áp cao nguyên phát chỉ gặp ở loài người.

− Bệnh này có liên quan đến:

+ Tuổi: tuổi càng cao thì càng nhiều người bệnh huyết áp cao. Nếu ở lứa tuổi trẻ số người có bệnh huyết áp cao chiếm tỷ lệ 1-2% thì ở người cao tuổi tỷ lệ mắc bệnh tăng đến 18,2-38% (thậm chí đến 50,2%). Trên 40 tuổi số người huyết áp cao gấp 10 lần so với khi dưới 40 tuổi.

+ Sự phát triển công nghiệp: ở đô thị và nơi có nhịp sống căng thẳng, tỷ lệ mắc bệnh huyết áp cao hơn. Tương tự, ở các nước phát triển có mức sống cao và ở thành thị tỷ lệ mắc bệnh huyết áp cao nhiều hơn ở nông thôn.

− Huyết áp cao là bệnh gây nhiều tai biến:

+ Trong độ tuổi từ 50-60 tuổi: với huyết áp tâm trương 85mmHg, tỷ lệ tử vong là 6,3%. Với huyết áp tâm trương lớn hơn 104 mmHg, tỷ lệ tử vong là 15,3%.

+ Ở Mỹ, công trình nghiên cứu do Q.B. Kannel chỉ đạo, tiến hành trên 5209 đối tượng, và theo dõi liên tục trong 18 năm đã chứng minh: ở người huyết áp cao nguy cơ tai biến mạch não cao gấp 7 lần so với người huyết áp bình thường, tuổi càng cao nguy cơ càng lớn. Trị số HA tối đa tăng thêm 10 mmHg thì nguy cơ tai biến mạch não tăng thêm 30%.

+ Ở Pháp, nguyên cứu của F.Forette (1968-1978) cho thấy tỷ lệ tai biến mạch não ở người huyết áp cao gấp đôi (20,6%) người có huyết áp bình thường (9,8%). Tỷ lệ nhồi máu cơ tim là 27,8% (so với người bình thường 7,8%) nhiều gấp 3 lần.

+ Ở Nhật Bản, nghiên cứu của K. Isomura trong 10 năm (1970-1980) cho thấy: 79-88% những người tai biến mạch não là những người có bệnh huyết áp cao.

II. CƠ CHẾ NGUYÊN NHÂN BỆNH

A. THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI

Tùy theo nguyên nhân, có thể chia ra: huyết áp cao thứ phát và huyết áp cao nguyên phát. Ở trẻ em và người trẻ, phần lớn là huyết áp cao thứ phát. Ở người cao tuổi, phần lớn là huyết áp cao nguyên phát.

1. Huyết áp cao thứ phát

Loại này chiếm 11-15% tổng số trường hợp huyết áp cao.

Nguyên nhân thận (chiếm khoảng 5-8%): viêm cầu thận cấp, viêm cầu thận mạn mắc phải hoặc di truyền; thận đa nang, ứ nước bể thận, u tăng tiết renin; bệnh mạch thận (3-4%).

Nguyên nhân nội tiết: cường aldosteron nguyên phát (0,5-1%), phì đại thượng thận bẩm sinh, hội chứng Cushing (0,2-0,5%), u tuỷ thượng thận (0,1- 0,2%). Tăng calci máu, bệnh to đầu chi, cường giáp...

Nguyên nhân khác (khoảng 1%): hẹp eo động mạch chủ, nhiễm độc thai nghén, bệnh đa hồng cầu, nguyên nhân thần kinh (toan hô hấp, viêm não, tăng áp lực nội sọ...).

2. Huyết áp cao nguyên phát

Khi huyết áp cao không tìm thấy nguyên nhân gọi là huyết áp cao nguyên phát. Loại này chiếm tỷ lệ 85-89% trường hợp huyết áp cao (theo Gifford và Weiss). Phần lớn huyết áp cao ở người trung niên và người già thuộc loại nguyên phát. Có nhiều yếu tố thuận lợi làm xuất hiện bệnh huyết áp cao nguyên phát.

− Yếu tố di truyền: bệnh thường gặp ở những gia đình có huyết áp cao hơn là ở những gia đình có huyết áp bình thường.

− Yếu tố biến dưỡng: như thừa cân, xơ mỡ động mạch, chế độ ăn nhiều muối.

− Yếu tố tâm thần kinh: tình trạng căng thẳng thần kinh.

− Yếu tố nội tiết: thời kỳ tiền mãn kinh, dùng thuốc ngừa thai…

B. THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN

Tìm hiểu các tài liệu của YHCT nói về bệnh huyết áp cao của y học hiện đại là điều không đơn giản. Huyết áp cao là danh từ bệnh học YHHĐ và không có từ đồng nghĩa trong bệnh học y học cổ truyền. Từ đồng nghĩa dễ gặp giữa YHHĐ và YHCT là các triệu chứng (ví dụ: “đau đầu” với “đầu thống”, “mất ngủ” với “thất miên”).

1. Các chứng trạng thường gặp trong bệnh huyết áp cao

Các triệu chứng cơ năng thường gặp (nếu có xuất hiện) và được mô tả trong các tài liệu giáo khoa của một tình trạng cao huyết áp kinh điển gồm: mệt, nhức đầu, rối loạn thị giác, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, chảy máu cam. Theo báo cáo của Sở Nghiên cứu cao huyết áp Thượng Hải (Trung Quốc) phân tích trên 550 trường hợp cao huyết áp: đau đầu chiếm tỷ lệ cao nhất (74,8%), kế đến là tim hồi hộp (52,18%). Ngoài ra có thể có các biểu hiện khác là những hậu quả trực tiếp của cao huyết áp; đó là những tình trạng thiểu năng mạch vành, tai biến mạch máu não, liệt bán thân.

Như vậy, có thể tóm tắt các triệu chứng cơ năng thường gặp trong bệnh lý huyết áp cao gồm:

− Hoa mắt, chóng mặt: YHCT xếp vào chứng huyễn vậng hay còn gọi là huyễn vựng.

− Đau đầu: YHCT xếp vào chứng đầu thống, đầu trọng, đầu trướng dựa vào những biểu hiện khác nhau của nó.

− Đánh trống ngực, hồi hộp: YHCT xếp vào chứng tâm quý, chính xung.

− Đau ngực gọi là tâm thống, hoặc kèm khó thở thì được gọi là tâm tý, tâm trướng.

− Hôn mê, liệt nửa người: YHCT xếp vào chứng trúng phong.

2. Cơ chế bệnh sinh

Qua việc phân tích cơ chế bệnh sinh toàn bộ các chứng trạng thường gặp của YHCT trong bệnh lý huyết áp cao, có thể biện luận về cơ chế bệnh sinh theo YHCT như sau:

Nguyên nhân của bệnh lý này theo YHCT có thể là

Do thất tình như giận, lo sợ gây tổn thương 2 tạng can, thận âm.

− Do bệnh lâu ngày, thể chất suy yếu; thận âm, thận dương suy (thận âm suy hư hỏa bốc lên, thận dương suy chân dương nhiễu loạn ở trên).

− Do đàm thấp ủng trệ gây trở tắc thanh khiếu. Đàm thấp có thể do ăn uống không đúng cách gây tổn hại tỳ vị hoặc do thận dương suy không khí hóa được nước làm sinh đàm.

Sự phân chia này có tính tương đối vì giữa các nguyên nhân (theo YHCT) và các thể bệnh có mối liên hệ với nhau như can âm hư có thể dẫn đến can dương vượng (can dương thượng xung), thận âm hư lâu ngày dẫn đến thận dương hư hoặc như thận dương hư có thể gây nên bệnh cảnh đàm thấp.

III. BIỂU HIỆN LÂM SÀNG

A- THEO YHHĐ

Tổ chức y tế thế giới phân bệnh HA cao làm 3 giai đoạn:

+ Giai Đoạn I: người bệnh ở trạng thái dễ bị kích thích, thường hay kêu đầu đau, đau về buổi sáng và sau khi làm việc căng thẳng, đau từng cơn, cơn ngắn vài giờ hoặc cả ngày, có thể có cơn đau vùng tim (30%), có triệu chứng này chứng tỏ có dấu hiệu co thắt của động mạch vành. Người bệnh mệt mỏi, hồi hộp mặt đỏ hoặc tái do co thắt mạch máu (HA cao lên có người mặt đỏ có người mặt tái không nhất định) Sờ mạch tay quay thấy đập căng, mỏm tim đập mạnh, có tiếng thổi Tâm thu cơ năng, HA dao động, trường hợp này nên làm các nghiệm pháp xem HA có cao không:

1- Nghiệm pháp ngừng thở: gây hiện tượng thiếu oxy, gây co mạch, HA sẽ cao (ngưng chừng một phút sẽ đo ).

2- Ngâm chân vào nước lạnh 40C chừng 2 - 3 phút, gặp lạnh mạch máu sẽ co lại, HA sẽ tăng lên (nếu đúng thì HA sẽ cao lên)

+ Giai Đoạn 2: HA cao thường xuyên có cơn cao kịch phát, đầu đau dữ dội, thở khó, phù phổi cấp do thất trái suy cấp. HA tối đa có khi lên đến 220/100mmHg, có thể bị xuất huyết não, hôn mê.

. Dấu hiệu rối loạn tuần hoàn não: chóng mặt, tai ù, muốn ói, đầu nhức dữ dội, có khi phát âm không rõ, có khi có hơi thoáng liệt, có khi ngất lịm...

. Đối với võng mạc: thị lực giảm, có dấu hiệu ruồi bay hoặc sương mù, soi đáy mắt thấy mao mạch ngoằn ngoèo, phù nề hoặc xuất huyết

. Đối với tim: có tiếng thổi tâm thu, nghe được tiếng thứ 2 do động mạch xơ cứng. Có cơn đau thắt ngực, loạn dưỡng cơ tim, nhồi máu cơ tim.

. Đối với thận: bị thiếu máu nhẹ ở thận gây rối loạn chức năng thận, nước tiểu có hồng cầu hình trụ.

+ Giai Đoạn 3: Triệu chứng lâm sàng giống giai đoạn II nhưng nặng hơn. HA cao cố định, nếu tụt xuống là nguy vì đã suy tuần hoàn nặng rồi.

Người bệnh thấy đầu đau, mất ngủ, trí nhớ giảm, mất khả năng lao động.

Cơn đau thắt tim tăng lên nhiều, suy tim độ 3,4, đe dọa nhồ máu cơ tim, xuất hiện phù nề, gan to, cổ trướng, tổn thương tuần hoàn não, muốn ói, co giật, bán hôn mê, xuất huyết não, không có đe dọa phù phổi cấp vì tuần hoàn đã giảm nhiều rồi.

. Mắt: tổn thương mắt nặng, có thể bị mù.

. Thận: tổn thương + thận viêm rõ, u rê huyết cao. Ở giai đoạn này (III) xuất huyết não và lượng đàm trong máu cao, người bệnh thường chết do nhồi máu cơ tim.

B- THEO YHCT: 

benh-chung-thuoc-dieu-tri-huyet-ap-cao

Bệnh chứng thuốc điều trị huyết áp cao - Hình minh họa

Trên lâm sàng thường gặp các loại sau:

1. CAN DƯƠNG THƯỢNG KHÁNG (Thường gặp ở người trẻ, rl tiền mãn kinh)

Chứng trạng: choáng váng ù tai, đầu đau trướng, nhọc nhằn, tức giận càng nghiêm trọng, tứ chi run rẩy, mất ngủ nhiều mộng mị, hấp tấp dễ giận, miệng đắng, lưỡi đỏ hồng rêu vàng, mạch huyền.

Pháp trị: bình can tiềm dương, tư dưỡng can thận.


Thiên ma, câu đằng, thạch quyết minh, hoàng cầm, chi tử, ích mẫu thảo, ngưu tất, đỗ trọng, tang ký sinh, phục thần, dạ giao đằng.

Trong phương thiên ma, câu đằng, thạch quyết minh hồ can tức phong; hoàng cầm, chi tử thanh can tả hoả; ích mẫu thảo hoạt huyết lợi thủy; ngưu tất dẫn huyết hạ hành, phối hợp đỗ trọng, tang ký sinh bổ ích can thận; phục thần, dạ giao đằng dưỡng huyết an thần định chí. Toàn phương hợp lại bình can tiềm dương, tư bổ can thận. Nếu thấy âm hư giảo thịnh, lưỡi đỏ rêu ít, mạch huyền tế sác tương đối rỏ ràng, có thể chọn sinh địa, mạch đông, huyền sâm, hà thủ ô, sinh bạch thược để tư bổ can thận âm.

Nếu can dương hoá hoả, can hoả kháng thịnh, biểu hiện choáng váng, đầu thống dữ dội, tai ù, tai điếc bạo tác, mắt đỏ, miệng đắng, lưỡi đỏ rêu vàng khô, mạch huyền sác, có thể dùng long đởm thảo, đơn bì, cúc hoa, hạ khô thảo để thanh can tả hoả.

Tiện bí có thể gia đại hoàng, mang tiêu hoặc đương qui long hội hoàn để thông phủ tiết nhiệt.

Huyền vựng (hoa mắt chóng mặt) kiệt liệt, nôn ói mữa, tay chân tê hoặc cơ nhục khó cử động, do can dương hoá phong, đặc biệt là đối với người trung niên phải chú ý là có khả năng dẫn đến bệnh trúng phong, nên phải gấp trị liệu, có thể gia trân châu mẫu, sinh long cốt, sinh mẫu lệ để trấn can tức phong, nếu cần phải gia linh dương giác để tăng cường thanh nhiệt tức phong thu công.

2. ĐÀM TRỌC THƯỢNG MÔNG (Thường gặp ở người béo & cholesterol máu cao)

Chứng trạng: choáng váng, đầu nặng tối tăm, nhìn vật xoay xung quanh, lòng buồn bực làm xầy bậy, ói ra đàm dãi, ăn ít ngũ nhiều, rêu lưỡi trắng nhớt, mạch huyền hoạt.

Pháp trị: thấp táo khư đàm, kiện tỳ hoà vị.


Bán hạ chế, phục linh, trần bì, bạch truật, thiên ma, cam thảo, câu đằng, ý dĩ, tang ký sinh, ngưu tất, sinh khương, đại táo

Trong phương dùng nhị trần thang lý khí điều trung, táo thấp khư đàm; phối bạch truật bổ tỳ trừ thấp, thiên ma câu đằng bình can tức phong trấn kinh; tang ký sinh, ngưu tất bổ can thận mạnh gân cốt hạ áp; cam thảo, ý dĩ, sinh khương, đại táo kiện tỳ hoà vị, điều hoà các vị thuốc.

Đầu vựng đầu trướng, ngũ nhiều, rêu lưỡi nhầy nhớt, gia hoắc hương, bội lan, thạch xương bồ để tỉnh tỳ hoá thấp khai khiếu

Ói mữa nhiều lần, gia đại giả thạch, trúc nhự hoà vị giáng nghịch chỉ ẩu.

Bao tử buồn bực, ngây dại, bụng trướng, gia hậu phác, bạch khấu nhân, sa nhân để lí khí hoá thấp kiện tỳ; Tai ù, nặng nghe, gia thông bạch, uất kim, thạch xương bồ để thông dương khai khiếu.

Đàm trọc uất mà hoá nhiệt, đàm hoả thượng phạm thanh khiếu, biểu hiện choáng váng, đầu mắt trướng thống, tâm phiền miệng đắng, khát không muốn uống, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch huyền hoạt, dùng hoàng liên ôn đởm thang thanh hoá đàm nhiệt.Nếu thể chất vốn dương hư, đàm theo hàn hoá, đàm ẩm lưu bên trong, thượng phạm thanh khiếu, dùng linh quế truật cam thang hợp trạch tả thang ôn hoá đàm ẩm.

3. CAN THẬN ÂM HƯ (Thường gặp ở người già, xơ cứng động mạch)

Chứng trạng: Nhức đầu, chóng mặt, hoa mắt, ù tai, hoảng hốt, dễ sợ, ngủ ít hay nằm mê, lưng gối yếu, miệng khô, mặt đỏ, chất lưỡi đỏ, mạch huyền tế sác (thiên về âm hư); sắc mặt trắng, chân gối mêm yếu, đi tiểu nhiều, liệt dương, di tinh, mạch trầm tế (thiên về dương hư)

Pháp trị: tư dưỡng can thận, dưỡng âm trấn tinh

Âm hư: bổ can thận âm

Dương hư: ôn dưỡng can thận

Phương dược: 

ÂM HƯ: LỤC VỊ QUY THƯỢC THANG
Thục địa, Hoài sơn, Sơn thù, Trạch tả, Đơn bì, Phục linh, Đương quy, Bạch thựơc.

Trong phương Thục địa tư thận dưỡng tinh là chủ dược, Sơn thù dưỡng can sáp tinh, Sơn dược bổ tỳ cố tinh, Trạch tả thanh tả thận hỏa giảm bớt tính nê trệ của Thục địa, Đơn bì thanh can hỏa giảm bớt tính ôn của Sơn thù, Bạch linh kiện tỳ trừ thấp giúp Hoài sơn kiện tỳ. Sáu vị thuốc hợp lại vừa bổ vừa tả giúp cho tác dụng bổ tốt hơn là một bài thuốc chủ yếu tư bổ Can thận. Quy thược dưỡng huyết hòa can hoạt huyết điều kinh.

Hoa mắt, mờ mắt, đau đầu chóng mặt gia cúc hoa, kỷ tử.

Nhức đầu gia sài hô, bạch thược.

Đau mắt gia tật lê, cúc hoa.

Đau đỉnh đầu gia tần giao, bạch thược.

Động kinh gia sài hồ, bạch thược, long đởm thảo, tần giao.

DƯƠNG HƯ: LỤC VỊ QUY THƯỢC GIA THUỐC TRỢ DƯƠNG: 

Ba kích, Ích trí nhân, Đỗ trọng * Chú ý Không dùng quế phụ.

4. KHÍ HUYẾT KHUY HƯ (Thường gặp ở người già kèm viêm loét DDTT + viêm đại tràng)

Chứng trạng: đầu choáng mắt hoa, cự động sẽ nặng thêm, gặp lao thương sẽ phát lại, sắc mặt trắng bạch, móng tay chân da dẻ không vinh nhuận, tinh thần mõi mệt không có sức, hồi hợp đánh trống ngực ngũ ít, ăn ít, cầu lỏng, lưỡi nhạt rêu trắng bạc, mạch tế nhược.

Pháp trị: bổ dưỡng khí huyết, kiện vận tỳ vị.

Phương dược: QUI TỲ THANG GG.

Hoàng kỳ, nhân sâm, bạch truật, đương qui, long nhãn nhục, phục thần, viễn chí, toan táo nhân, mộc hương, cam thảo, hoa hoè, ngưu tất, hoàng cầm, tang ký sinh.

Trong phương dùng hoàng kỳ, nhân sâm, bạch truật, đương qui kiện tỳ ích khí sinh huyết; long nhãn nhục, phục thần, viễn chí, toan táo nhân dưỡng tâm an thần; mộc hương lí khí tỉnh tỳ, khiến bổ mà không trệ; cam thảo điều hoà chư dược. Toàn phương hữu bổ dưỡng khí huyết, kiện vận tỳ vị, dưỡng tâm an thần rất công hiệu. Tang ký sinh, ngưu tất bổ can thận mạnh gân cốt hạ áp; hoa hòe thanh can, tả hỏa, hạ huyết áp. Hoàng cầm tả phế hỏa, thanh thấp nhiệt.

Nếu khí hư vệ dương không vững, mồ hôi tự ra, dễ bị cảm mạo, trọng dụng hoàng kỳ, gia phòng phong, phù tiểu mạch ích khí cố biểu liễm hãn.

Tỳ hư thấp thịnh, tiết tả hoặc cầu lỏng, gia ý dĩ nhân, trạch tả, sao biển đậu, đương qui sao dụng kiện tỳ lợi thủy.

Khí tổn cùng dương tổn, sẽ thấy ố hàn tứ chi hàn lãnh, trong bụng lạnh thống vv đó là chứng dương hư, gia quế chi, can khương ôn trung tán hàn.

Huyết hư giảo thậm, sắc mặt trắng bạch tự nhiên, gia thục địa, a giao, tử hà xa để dưỡng huyết bổ huyết, trọng dụng sâm kỳ để bổ khí sinh huyết.

Nếu trung khí bất túc, thăng dương bất thăng, biểu hiện luôn luôn bị huyền vựng, khí đoản không có sức, tinh thần mõi mệt, tiện lỏng hạ trụy, mạch tượng vô lực, dụng bổ trung ích khí thang bổ trung ích khí, thăng thanh giáng trọc.

*** Ngoại Khoa Chữa Cao huyết áp.

- Thuốc Đắp:

1. Ngô thù du tán nhỏ. Mỗi lần dùng 30g. Tối khi đi ngủ, lấy dấm đun sôi, trộn thuốc bột trên cho sền sệt, đắp vào lòng bàn chân (huyệt Dũng tuyền), dùng băng gạc cố định lại để qua đêm. Đắp dán thuốc liên tục 3-5 lần 

benh-chung-thuoc-dieu-tri-huyet-ap-cao

Bệnh chứng thuốc điều trị huyết áp cao - Thuốc đắp phòng ngừa huyết áp

2. Đào nhân 12g, Hạnh nhân 12g, Chi tử 4g, Hồ tiêu 7 hột, Gạo tẻ 14 hột. Giã nát, trộn với 1 tròng trắng trứng gà cho sền sệt đắp vào huyệt Dũng tuyền dưới lòng bàn chân. Mỗi ngày một lần. Mỗi ngày đắp một bên chân, thay đổi đắp cả hai chân. 6 ngày là một liệu trình.

- Gối thuốc:

Gối cúc đan khung chỉ: hoa cúc 1.000g, đan bì 200g, xuyên khung 400g, bạch chỉ 200g. Nghiền vụn 4 vị thuốc trên nhồi vào ruột gối. Tác dụng thanh can minh mục, an thần ích trí, tốt cho người bệnh cao huyết áp, suy nhược thần kinh, đau nhức tai trong.

Lưu ý: Thời gian sử dụng gối thuốc không nên ít hơn 6 tiếng/1 tuần. Mỗi sáng dậy nên bọc gối thuốc vào túi nilon để mùi thuốc đỡ bay mất. Nếu sử dụng tốt thì gối thuốc có thể giữ được 1 - 2 năm. Sau 2 - 3 tuần sử dụng thì nên bỏ ra phơi chỗ thoáng không nắng. Đến khi ruột gối hết mùi thơm thì nên thay ruột gối.

Thường thì gối thuốc không có tác dụng phụ, không gây độc, tuy nhiên nếu thấy có triệu chứng dị ứng thì nên ngừng sử dụng. Nói chung gối thuốc có hiệu quả điều trị từ từ nên cần sử dụng lâu dài.

V. TIÊN LƯỢNG BỆNH

Gốc bệnh phần nhiều thấy hư chứng do can thận âm hư, khí huyết khuy hư, do âm hư không chế được dương, hoặc khí hư sinh đàm dần dần sinh thấp, có thể do nguyên nhân hư dẫn đến thực, mà chuyển thành chứng gốc hư ngọn thực; mặt khác chứng minh thực tế can dương, can hoả, đàm trọc vv lâu ngày, cũng có thể làm thương âm hao khí, mà chuyển thành chứng hư thực lẫn lộn. Người huyết áp cao tuổi trung niên trở lên do can dượng thượng nhiễu, can hoả thượng viêm, do thận khí dần dần bị suy, nếu can thận âm dần dần bị thiếu, mà dương kháng thay thế, âm khuy dương kháng, dương sẽ hoá phong, huyết theo khí nghịch, gặp đàm gặp hoả, trên bị che lấp thanh khiếu, chạy tán loạn kinh lạc, có thể hình thành bệnh trúng phong, nhẹ sẽ dẫn đến tàn phế, nặng sẽ dẫn đến nguy kịch tính mệnh.

VI. DỰ PHÒNG VÀ ĐIỀU DƯỠNG 

Mục tiêu của điều trị và dự phòng bệnh huyết áp cao là giảm bệnh suất và tử suất bằng phương tiện ít xâm lấn nhất nếu có thể. Cụ thể là làm giảm và duy trì HATT <140mmHg và HATTr <90mmHg hay thấp hơn nữa nếu bệnh nhân dung nạp được. Ích lợi của việc hạ huyết áp là ngăn ngừa được tai biến mạch máu não, bảo tồn chức năng thận và ngăn ngừa hoặc làm chậm diễn tiến suy tim. Việc điều trị huyết áp cao chưa có biến chứng bao gồm trước tiên và luôn luôn là những điều chỉnh về sinh hoạt ăn uống, kế đó mới đến vai trò của thuốc và nhất là chú ý toàn bộ về nguy cơ các bệnh lý mạch máu.

Tránh béo phì: hạn chế dùng một số thực phẩm như lòng đỏ trứng, não động vật, gan dê, thịt chim sẽ, thịt dê, thịt chó, mỡ động vật …

Tránh ăn mặn: hạn chế muối ăn & bột ngọt dưới 2 - 4g/ ngày (lượng mắm muối 1 thìa cà phê muối hoặc 4 thìa cà phê nước mắm/ ngày)
Tránh các thức uống kích thích như rượu bia, cà phê, trà đậm, thuốc lá …

Tránh lao động quá sức, phòng dục quá độ.

Cẩn thận giữ mình khi thời tiết chuyển lạnh vào mùa đông và khi áp suất không khí lên cao vào mùa hè.

Tránh tắm khuya hoặc ở nơi gió lùa.

Sử dụng thực phẩm càng gần với thiên nhiên càng tốt, tránh tối đa các thực phẩm chế biến sẵn vô chai, đóng lon, đóng hộp, chiên rán, thực phẩm ăn liền, muối mặn, phơi khô …

Nên sử dụng thức ăn giàu chất xơ, kali, magnesium, calci, cá béo: rau dền, bắp cải, su hào, sà lách, dưa chuột, bí đỏ, đậu co ve, rau cải, đậu nành, trái cây, cá bống, cá nhỏ ăn cả xương, cá béo, nghêu, sò, ốc, hến… 

Tăng sử dụng các thức ăn uống có tính an thần, hạ áp, thông tiểu: lá vông, tim sen, ngó sen, hoa hoè, râu bắp …

Tập luyện dưỡng sinh, tập thể dục, chơi thể thao đều đặn là phương pháp điều chỉnh hay nhất. Những bài tập thích hợp của phương pháp dưỡng sinh như thư giãn, thở 4 thời có kê mông, giơ chân và những động tác xoa bóp vùng đầu mặt cần được áp dụng đều đặn. Mục tiêu là thói quen này phải được đưa vào cách sống của người bệnh.

VII. LỜI KẾT

Huyết áp cao không phải là bệnh mà là một hội chứng do nhiều nguyên nhân gây ra, những nguyên nhân gây ra cao huyết áp đã được giới thiệu ở trên, bây giờ chúng ta nên biết những bệnh lý nào có thể khiến con người mắc bệnh huyết áp cao, trong cuộc sống bình thường chúng ta nên tránh tình trạng này kịp thời.

Huyết áp cao là một hội chứng bệnh lý nguy hiểm nó có thể hình thành bệnh trúng phong, nhẹ sẽ dẫn đến tàn phế, nặng sẽ dẫn đến nguy kịch tính mệnh (làm tắc nghẽn mạch máu não hoặc xuất huyết não gây nên tổn thương tủy não) nên bạn đừng chủ quan điều trị bệnh tại nhà mà không có sự tư vấn và thăm khám từ thầy thuốc nhé.

Bệnh chứng thuốc điều trị huyết áp thấp

BỆNH CHỨNG THUỐC ĐIỀU TRỊ HUYẾT ÁP THẤP

I. ĐẠI CƯƠNG

Theo Tổ chức Y tế thế giới, huyết áp thấp là biểu hiện của sự rối loạn chức năng vỏ não của trung khu thần kinh vận mạch. Bệnh nhân được coi là huyết áp thấp khi trị số huyết áp tâm thu (huyết áp tối đa) dưới 90mmHg và huyết áp tâm trương (huyết áp tối thiểu) dưới 60mmHg. Có hai loại: huyết áp thấp tiên phát (do thể trạng) và huyết áp thấp thứ phát (do các bệnh lý khác). Những người huyết áp thấp thường có biểu hiện: mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn, vã mồ hôi, da nhăn và khô, giảm tập trung trí lực, suy giảm khả năng tình dục, khi thay đổi tư thế có thể choáng váng, thoáng ngất hoặc ngất, thở dốc nhất là sau khi leo lên cầu thang hay làm việc nặng.

Huyết áp thấp theo YHCT thuộc thể hư của chứng huyễn vựng, hư huyễn. (huyễn là hoa mắt, vựng là chóng mặt). Nguyên nhân phổ biến của bệnh này là do khí huyết hư làm cho não thiếu sự nuôi dưỡng gây nên chứng hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn, váng đầu, sắc mặt nhợt nhạt, tay chân yếu run, mạch vô lực...

Để điều trị huyết áp thấp phải đưa huyết áp về trị số bình thường sau đó duy trì để tránh tái phát.

II. CƠ CHẾ NGUYÊN NHÂN BỆNH

A. THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI

Huyết áp thấp là một trạng thái biến đổi sinh lý do hậu quả của nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra như:

- Huyết áp thấp do giảm thể tích máu: do mất máu hay mất nước (chấn thương gây chảy máu, tiêu chảy, nôn mửa, dùng thuốc lợi tiểu...), do cơ thể giảm tạo ra máu (suy dinh dưỡng, bệnh của tủy xương...)

- Huyết áp thấp do giảm sức bơm của tim: các bệnh lý tim mạch.

- Huyết áp thấp do giảm sức co của mạch máu: dùng các loại thuốc làm dãn mạch máu, do cường thần kinh đối giao cảm (là hệ thần kinh làm dãn mạch) hay do suy yếu thần kinh giao cảm (là hệ thần kinh gây co mạch)...

benh-chung-thuoc-dieu-tri-huyet-ap-thap

Bệnh chứng thuốc điều trị huyết áp thấp - Hình minh họa

B. THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN

Chứng huyết áp thấp bất kỳ do nguyên nhân nào, theo YHCT đều thuộc chứng hư. Nhẹ thì do Tâm dương bất túc, Tỳ khí suy nhược. Nặng thì thuộc thể Tâm Thận dương suy, vong dương hư thoát.

Trên lâm sàng thường gặp các loại sau:

1. TÂM DƯƠNG HƯ THOÁT:

Chứng trạng: Váng đầu, hoa mắt, tinh thần mỏi mệt, buồn ngủ, ngón tay lạnh, chất lưỡi nhạt, thân lưỡi bệu, rêu lưỡi trắng nhuận, mạch Hoãn, không lực hoặc Trầm Tế.
Pháp trị: Ôn bổ tâm dương.
Phương dược: QUẾ CHI CAM THẢO THANG GIA VỊ
Nhục quế, quế chi, chích cam thảo. Mỗi ngày sắc một thang, uống liên tục 10 – 15 thang hoặc hãm với nước sôi uống như nước trà.
Gia giảm: Chất lưỡi đỏ, rêu vàng khô là chứng khí âm bất túc, thêm Mạch môn, Ngũ vị tử để ích khí, dưỡng âm. Khí hư, ít nói, ra mồ hôi: Bổ khí thêm Hồng sâm để bổ khí, trợ dương. Huyết áp tâm thu dưới 60mm/Hg, chân tay lạnh, có triệu chứng vong dương, bỏ Quế chi, thêm Hồng sâm, Phụ tử chế để hồi dương, cứu thoát.

2. TRUNG KHÍ BẤT TÚC TỲ VỊ HƯ NHƯỢC:

Chứng trạng: Váng đầu, hồi hộp, hơi thở ngắøn, tinh thần mệt mỏi, chân tay mềm yếu, sợ lạnh, dễ ra mồ hôi, ăn kém, ăn xong bụng đầy, chất lưỡi nhợt, rêu trắng nhuận, mạch Hoãn, vô lực.
Pháp trị: Bổ trung ích khí kiện tỳ vị.
Phương dược: HƯƠNG SA LỤC QUÂN THANG GIA GIẢM
Đảng sâm, bạch truật, bạch linh, đương quy, hoàng kỳ, bạch thược, chỉ thực, trần bì, mộc hương , sa nhân, quế chi, chích thảo, đại táo, gừng tươi. Mỗi ngày sắc một thang, uống liên tục 10 – 15 thang

3. TỲ THẬN DƯƠNG HƯ:

Chứng trạng: Váng đầu, ù tai, mất ngủ, mệt mỏi, hơi thở ngắn, ăn kém, đau lưng, mỏi gối, chân tay lạnh, sợ lạnh hoặc di tinh, liệt dương, tiểu đêm, lưỡi nhợt, rêu trắng, mạch Trầm Nhược.
Pháp trị: Ôn bổ Tỳ Thận dương.
Phương dược: CHÂN VŨ THANG GIA VỊ
Đảng sâm, phụ tử chế, bạch truật, bạch thược, bạch linh, quế nhục, câu kỷ tử, liên nhục, bá tử nhân, ích trí nhân, toan táo nhân sao, dạ giao đằng, gừng tươi. Mỗi ngày sắc một thang, uống liên tục 10 – 15 thang

4. KHÍ ÂM LƯỠNG HƯ:

Chứng trạng: Đau đầu, chóng mặt, khát, họng khô, lưỡi thon đỏ, ít rêu, khô, mạch Tế Sác .
Pháp trị: Ích khí dưỡng âm.
Phương dược: SINH MẠCH TÁN GIA VỊ
Nhân sâm, mạch môn, ngũ vị tử, hoàng tinh. Mỗi ngày sắc một thang, uống liên tục 10 – 15 thang
HOẶC PHÙ CHÍNH THĂNG ÁP THANG GIA VỊ
Nhân sâm, mạch môn, chích thảo, trần bì, a giao, ngũ vị tử, sinh địa, chỉ xác, hoàng kỳ. Mỗi ngày sắc một thang, uống liên tục 10 – 15 thang
Ích khí dưỡng âm. Trị khí âm đều hư, huyết áp thấp

III. TIÊN LƯỢNG BỆNH

Huyết áp thấp là căn bệnh mà chúng ta thường gặp phải trong cuộc sống, ai cũng biết bệnh nhân huyết áp cao rất đau khổ, thực tế nếu huyết áp thấp ngược lại cũng sẽ gây ra những tổn thương nhất định cho cơ thể. Nếu so sánh với bệnh cao huyết áp, huyết áp thấp trước mắt không dẫn đến biến chứng như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim… nên nhiều người huyết áp thấp đa số đều chủ quan, cho rằng nó không nguy hiểm, điều này dẫn đến một số biến chứng nguy hiểm không kém bệnh cao huyết áp.

Huyết áp thấp có thể gây chóng mặt và ngất xỉu, khi não không nhận được lượng máu cung cấp đầy đủ.

Khi bạn gặp phải những vết thương dẫn đến chảy máu liên tục không kiểm soát được, hay tình trạng tiêu chảy, nôn dẫn đến mất nước nhanh; tình trạng nhiễm trùng nặng hoặc phản ứng dị ứng,… đều dẫn đến huyết áp giảm đột ngột và có thể đe dọa đến tính mạng.

Khi bệnh nhân bị tụt huyết áp nhiều lần, hệ thống thần kinh bị suy giảm chức năng, cơ thể không tự kịp điều chỉnh để cung cấp đủ dinh dưỡng và ôxy cho các cơ quan có chức năng sống còn như não, tim, thận gây tổn thương các cơ quan này.

Theo các nhà nghiên cứu, huyết áp càng thấp bị mất trí nhớ càng cao, nó gắn liền với bệnh mất trí do Alzheimer gây ra. Những người có mức huyết áp thấp kéo dài liên tục trong hai năm có khả năng bị mất trí nhớ cao gấp hai lần.

Huyết áp hạ quá thấp cũng có thể làm nhịp tim nhanh, gây choáng, ngất. Đây là hậu quả khá phổ biến, khi huyết áp giảm đột ngột, não bộ không kịp thích nghi với tình trạng thiếu oxy bất ngờ.

Huyết áp thấp kéo dài còn làm cho các cơ quan thận, tim, phổi suy yếu nhanh chóng, làm suy giảm khả năng tình dục, da nhăn nheo kèm rụng tóc, lưu thông máu giảm dẫn đến các vết nám và tàn nhang ở phụ nữ khiến nhan sắc bị ảnh hưởng nhiều.. Bệnh còn gây tổn hại tới ốc tai làm giảm thính giác và gây điếc.

Ngoài ra, người bị tụt huyết áp cấp có thể gây sốc, đặc biệt nguy hiểm đến tính mạng trong những trường hợp như đang lái xe, làm việc trên tầng cao...

IV. DỰ PHÒNG VÀ ĐIỀU DƯỠNG

Những người huyết áp thấp cần phải ngủ đẫy giấc, khoảng 9 - 11 tiếng/ngày. Ngoài ra, người huyết áp thấp phải biết thức dậy đúng cách. Vì khi ngủ, máu sẽ tập trung vào khu vực dạ dày (gan, phổi, lá lách), xuất hiện tình trạng thiếu máu não tạm thời. Nếu người huyết áp thấp ngồi dậy đột ngột, có thể bị ngất đi (bất tỉnh nhân sự). Khi thức dậy, cần phải nằm thêm một lúc, tập một vài động tác thể dục đơn giản (vận động các khớp xương chân tay). Sau đó ngồi dậy, để chân trên giường, rồi mới từ từ cho chân ra khỏi giường và vẫn tiếp tục ngồi. Khi đứng dậy nên vịn vào ghế, cứ đứng như thế một lúc

Tập luyện dưỡng sinh, tập thể dục, chơi thể thao đều đặn là phương pháp điều chỉnh hay nhất. Những bài tập thích hợp của phương pháp dưỡng sinh như thư giãn, thở 4 thời có kê mông, giơ chân và những động tác xoa bóp vùng đầu mặt cần được áp dụng đều đặn. Mục tiêu là thói quen này phải được đưa vào cách sống của người bệnh.

Cẩn thận giữ mình khi thời tiết chuyển lạnh vào mùa đông và khi áp suất không khí lên cao vào mùa hè.

Tránh tắm khuya hoặc ở nơi gió lùa.

Nên sử dụng thức ăn giàu chất xơ, kali, magnesium, calci, chất béo: rau dền, bắp cải, su hào, sà lách, dưa chuột, bí đỏ, đậu co ve, rau cải, đậu nành, trái cây, cá bống, cá nhỏ ăn cả xương, cá béo, nghêu, sò, ốc, hến… Tăng sử dụng các thức ăn uống có tính bổ thận kiện tỳ ích khí: hạt sen, long nhãn, đại táo, khoai mỡ, hạt súng, lúa mạch, nấm phục linh ...

Một số đồ uống có tác dụng làm tăng huyết áp như cà phê, nước chè đặc, nước nho.

Bổ sung sắt đặc biệt chú ý các thực phẩm chứa nhiều sắt như thịt lợn, tôm, sữa, đậu, gan động vật, tim, thận …

Tham khảo: 


Bệnh chứng thuốc điều trị khái thấu

 BỆNH CHỨNG THUỐC ĐIỀU TRỊ KHÁI THẤU

(HO - VIÊM PHẾ QUẢN) 

Ho (khái thấu) là những yếu tố như ngoại cảm hoặc nội thương làm cho phế khí mất chức năng tuyên túc, phế khí thượng nghịch, phế khí bị tổn thương, phát ra tiếng ho hoặc kèm theo khạc đàm là một đặc trưng lâm sàng của bệnh. Qua nhiều thời đại đã đưa ra có tiếng mà không có đàm là Khái, có đàm mà không có tiếng là Thấu, có đàm có tiếng gọi là Khái Thấu. Trên lâm sàng rất khó để tách biệt hoàn toàn, thường đi đôi với nhau nên gọi là chứng ‘khái thấu ‘'. 

benh-chung-thuoc-dieu-tri-khai-thau
Bệnh chứng thuốc điều trị khái thấu (ho - viêm phế quản) - Hình minh họa a

Khái thấu hoặc chỉ gọi là Khái. Khái luận – Tố vấn chuyên bàn về Khái thấu còn nêu ra “năm tạng sáu phủ đều làm cho người ta Khái, chứ không riêng tạng Phế”. Hoặc gọi là Khái thấu thì thường gọi chung với thượng khí, như Ngũ tạng sinh thành thiên – Tố vấn gọi là “Khái thấu thượng khí”. Trong sách Kim quỹ yếu lược có chỗ gọi liền là “Đàm ẩm khái thấu” Các sách Kim quỹ yếu lược, Hán đại vỗ uy y giản lại gọi là “Khái nghịch”, “Khái nghịch thượng khí”. Có thể thấy từ đời Hán trở về trước các danh từ Khái, Khái thấu, hoặc Khái nghịch đồng nghĩa, vả lại hai thứ Khái thấu với thượng khí (suyễn) và Đàm ẩm liên hệ càng mật thiết, cho nên thường gọi liền nhau. Sách Chư bệnh nguyên hậu luận mới đem ba loại Khái thấu, Thượng khí và Đàm ẩm phân chia rõ ràng và đặt chuyên luận riêng, trong đó “Khái thấu bệnh chư hậu” gồm 15 chuyên luận nêu ra” “Khái thấu là Phế bị nhiễm lạnh, nhẹ thì thành khái thấu”. Nếu cảm nhiễm tà khí ôn nhiệt, thì lập riêng “Thời khí khái thấu hậu”, ”Ôn bệnh khái thấu hậu” để thảo luận. Nếu do nội thương gây nên, lại có “Hư lao khái thấu hậu”. Sách Tố vấn – Bệnh cơ khí nghi bảo mệnh tập viết: “Khái là không đàm mà phát tiếng, do Phế khí tổn thương nên không sạch. Thấu là không có tiếng mà có đàm, do Tỳ thấp bị khuấy động mà thành đàm. Khái thấu là nói vừa có đàm vừa có tiếng, bởi vì Phế khí bị tổn thương lại bị Tỳ thấp khuấy động nên vừa khái, vừa thấu”. Trên lâm sàng, khái, thấu, khái thấu, ba loại này thực ra không cần thiết phải phân biệt cho lắm, mà có thể gọi chung là Khái thấu. Khái thấu là biểu hiện tật bệnh ở bộ phận Phế trên lâm sàng do đàm gây nên; nếu là đàm ẩm khái thấu thì phần nhiều là bệnh chứng của hai tạng Phế Tỳ. Nếu khái thấu khí dồn lên, thì phần nhiều là bệnh chứng của hai tạng Phế Thận (Khí dồn lên với đàm ẩm có thể tham khảo các mục khí suyễn, Khái đàm). 

Thời nhà Minh “Cảnh nhạc toàn thư” chia ho thành hai loại: ngoại cảm và nội thương. “Minh y tạp trứ” chỉ ra rằng ho “phương pháp điều trị phân hư thực bệnh mới phát bệnh đã lâu”, đến nay lý luận về bệnh ho đã dần hoàn thiện và phù hợp với thực tiễn lâm sàng. 

Ho không chỉ là một hội chứng bệnh độc lập, mà còn là một triệu chứng của nhiều bệnh lý của hệ thống phổi. Phần này thảo luận về một loại hội chứng bệnh với biểu hiện lâm sàng chính là ho. Trong tây y, những bệnh nhân bị viêm đường hô hấp trên, viêm phế quản, giãn phế quản, viêm phổi và các triệu chứng khác có ho là triệu chứng chính thì có thể tham khảo hội chứng bệnh này để chẩn đoán và điều trị, còn những bệnh nhân mắc các bệnh khác cũng bị ho có thể liên quan đến hội chứng bệnh này.

I. CƠ CHẾ NGUYÊN NHÂN BỆNH 

Ho ngoại sinh và ho do nội thương, ho ngoại sinh là do lục dâm tà khí bên ngoài gây ra, ho do nội thương do các yếu tố nội thương như chế độ ăn uống, tình cảm và các cơ quan nội tạng khác. Ho ngoại sinh và ho do nội thương, cả hai đều do mầm bệnh gây ra làm cho phế khí mất chức năng tuyên túc, phế khí thượng nghịch, phế khí bị tổn thương mà gây ra ho 

1. Nguyên nhân của ngoại cảm là do khí hậu thay đổi đột ngột hoặc điều chỉnh không phù hợp, lục dâm ngoại cảm xâm nhập từ miệng, mũi hoặc da lông làm cho phế khí bị mất chức năng tuyên túc. “Hà gian lục thư – Khái thấu luận” viết: “Phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa sáu khí, đều làm cho người ta ho". Vì bốn mùa là khác nhau, nên các tác nhân gây bệnh bên ngoài mà cơ thể con người cảm nhận cũng khác nhau. Phong tà đứng đầu trong lục dâm, các tà ngoại sinh khác thường xâm nhập vào cơ thể con người, vì vậy, ho ngoại sinh thường là do phong, thường hiệp hàn, hiệp nhiệt, hoặc hiệp táo, trong số đó hầu hết phong hiệp hàn là đa số. “Cảnh nhạc toàn thư – Khái thấu” nói: “Ngoại cảm chi thấu, tất do phong hàn” “Ngoại cảm ho thường do phong hàn” 

2. Nguyên nhân của nội thương bao gồm chế độ ăn uống, tình chí cùng với phế bệnh tự phát. Ăn uống không đúng cách, nghiện thuốc lá, rượu bia, (nội sinh hỏa nhiệt) sinh nóng nhiệt bên trong, huân đốt phế vị, huân đốt tân dịch sinh đàm dãi; hoặc phát lãnh bất tiết, thích ăn đồ béo ngậy, làm tổn thương tỳ vị, dẫn đến đàm trọc nội sinh, ứ đọng ở phế, làm tắc nghẽn đường thở, làm cho phế khí thượng nghịch mà ho. Tình chí kích động, can khí mất điều đạt, khí uất hóa hỏa, khí hỏa đi qua kinh mạch xâm nhập vào phế làm cho phế mất đi sự túc giáng gây ho. 

Bệnh nhân mắc bệnh phổi tự phát, thường mắc bệnh phổi mãn tính, dai dẳng không lành, âm khí tiêu hao, phế không chủ được khí, mất chức năng túc giáng (phế khí đi xuống là thuận) phế khí nghịch lên mà gây ho; Hoặc phế khí hư không thể phân bổ tân dịch được mà thành đàm, phế âm hư mà thành hư hỏa huân đốt tân dịch mà thành đàm, đàm trọc trở trệ, phế khí không giáng được mà thượng nghịch gây ho 

Cơ quan chủ yếu của ho là ở phế, dù do các yếu tố gây bệnh do ngoại cảm hay nội thương thì chúng đều xâm nhập vào phế mà gây ra ho, nên “Cảnh nhạc toàn thư – Khái thấu” nói: Mặc dù ho nhiều, không ngoài bệnh phổi; Đó là do phế chủ khí, vị trí cao nhất, là hoa cái của ngũ tạng, phế lại khai khiếu ở mũi, bên ngoài thông với da lông (bì mao), nên phế dễ bị tà khí ngoại thương và nội thương nhất, mà phế là tạng phủ mỏng manh, không có khả năng chống lại sự xâm hại của tà khí, tà khí xâm nhập khiến phế khí không thông, mất đi sự túc giáng, khí nghịch lên mà ho. “Y học tam tự kinh – Khái thấu” nói: phế là tinh hoa bao trùm các tạng phủ, thở ra thì rỗng, hít vào thì đầy, chỉ tiếp nhận được chính khí của nội tạng mà không chịu được khách khí từ bên ngoài vào, khách khí xâm nhập thì gây ra sặc sụa và ho. Phế cũng chỉ chịu được khí trong lành của tạng phủ, không chịu được bệnh khí của tạng phủ, bệnh khí nổi lên cũng gây nên sặc sụa mà ho. “Tố vấn – khái luận” nói: “năm tạng sáu phủ đều làm cho người ta ho, chứ không riêng gì Phế. Song phế là cái chở của khí, mọi khí nghịch lên phế gây sặc sụa và ho. Ho không chỉ ở phế mà cũng không tách rời khỏi phế”. Nó cho thấy nội tạng bị bệnh ho không chỉ giới hạn ở phế, phàm bất kỳ rối loạn chức năng nội tạng nào đều ảnh hưởng đến phế, tất cả các bệnh nội tạng đều liên quan đến ho. 

Tuy nhiên, ho do các cơ quan khác phải thông qua phế, đây là cơ quan chính gây ho. Phế chủ khí, và bệnh sinh cơ bản của ho là do nội ngoại tà khí gây ảnh hưởng đến phế, phế khí không thông, phế mất tuyên túc, phế khí thượng nghịch không thông gây ho. “Y học tâm ngộ - khái thấu” nêu ra: Phế thuộc kim, ví như cái chuông vậy, chuông không gõ không kêu, phong hàn thử thấp táo hỏa lục dâm từ ngoài tập kích vào thì kêu, tình chí lao dục, ăn uống chiên nướng hỏa phát sinh bên trong cũng phát ra tiếng kêu. Nó cho thấy rằng ho là một phản ứng bệnh lý do tạng phế để loại bỏ các tà khí xâm nhập gây bệnh. Ho là một phản xạ sinh lý bảo vệ cơ thể tống những dị vật tại đường hô hấp ra khỏi cơ thể đồng thời cũng là một triệu chứng của nhiều loại bệnh thuộc đường hô hấp hoặc bệnh của các cơ quan khác trong cơ thể có ảnh hưởng đến chức năng hô hấp. 

Bản chất của chứng ho ngoại sinh thuộc thực, là do ngoại tà xâm nhập vào phế, phế khí ủng trệ không thông mà gây nên, yếu tố bệnh lý của nó là do phong hàn, thử, thấp, táo, hỏa, phần lớn phong hàn nhiều hơn, trong quá trình phát bệnh có thể phát sinh phong hàn hóa nhiệt, phong nhiệt hóa táo, hoặc bệnh lý phế nhiệt chưng (nung đốt dịch thành đàm). 

Bản chất của chứng ho nội thương thường thấy là tà khí thực cùng với chính khí hư, đa số do tà thực dẫn đến chính khí hư, đối với những người mắc bệnh ở phế, thường do hư dẫn đến thực. Yếu tố bệnh lý chủ yếu là “đàm” và “hỏa”, nhưng đàm có chia hàn nhiệt, hỏa có phân hư thực, đàm có thể trầm uất hóa hỏa, hỏa có thể nung đốt dịch (chất lỏng) thành đàm. Nội tạng và phế, can hỏa phạm phế thường thấy hỏa khí làm hao thương tân dịch ở phế, khiến các dịch chất thành đàm. Đàm thấp phạm Phế, phần lớn là do tỳ hư mất sự kiện vận, thủy cốc không thể chuyển hóa thành chất tinh hoa đưa lên trên để nuôi dưỡng phế, thay vào đó chúng tụ lại thành đàm trọc, tích trữ ở phế, phế khí ủng át (tắc nghẽn), thượng nghịch gây ho. Nếu bị bệnh lâu ngày, phế tỳ đều suy, khí không làm tan dịch cơ thể, thì đàm trọc dễ sinh sản. Đây là nguyên lý “tỳ là nguồn sinh ra đàm, phế là cơ quan tích chứa đàm”. Ho lâu ngày, thậm chí lan đến thận, gây ra hen suyễn do ho. Nếu đàm ẩm tích tụ trong phế, gặp ngoại cảm bên ngoài dẫn dắt, sẽ hóa nhiệt, tức là biểu hiện ho đàm nhiệt; nếu chuyển hàn, biểu hiện ho đàm hàn. Bệnh phế tự phát, chẳng hạn như phế âm bất túc, hỏa dịch sinh ra đàm, phế mất sự nhu nhuận, khí nghịch sinh ra ho, hoặc phế khí khuy hư, không có sức trấn áp khí, khí không chuyển hóa được dịch trong cơ thể, dịch trong cơ thể biến thành đàm, khí thượng nghịch gây ho. 

Ho ngoại sinh và ho do nội thương có thể ảnh hưởng lẫn nhau thành bệnh, nếu để bệnh kéo dài thì tà thực sẽ biến thành chính hư. Ho ngoại sinh kéo dài không chữa trị, tà khí tổn thương phế khí, dễ bị tà khí tiếp xúc nhiều lần, gây ho nhiều lần, chuyển sang ho do nội thương; phế tạng có bệnh, ngoại vệ không vững, dễ bị tác nhân bên ngoài kích phát hoặc nặng thêm, nhất là khi khí hậu thay đổi. Lâu ngày chuyển từ thực sang hư, phế tạng hư yếu, âm hư tiêu hao năng lượng. Có thể thấy, ho tuy có ngoại cảm và nội thương nhưng đôi khi cả hai có thể là nhân quả lẫn nhau. 

II. BIỂU HIỆN LÂM SÀNG 

Phế khí không thanh, mất đi sự tuyên phát túc giáng, thượng nghịch tạo ra âm thanh mà ho là triệu chứng chính của bệnh này. Ho có những biểu hiện lâm sàng khác nhau do bản chất mầm bệnh, ảnh hưởng của tạng phủ, đàm hàn đàm nhiệt, hỏa hư hỏa thực. Quá trình ho, bao gồm ho cấp tính và ho mãn tính. Khi ho, có người ho vào ban ngày nhiều hơn ban đêm, có người ho nhiều hơn vào buổi sáng và trước khi đi ngủ, có người ho nhiều hơn vào buổi chiều, chiều tối và đêm. Nhịp điệu ho có lúc là ho, có khi ho khan, ho thành từng đợt ngược lại và liên tục không ngừng. Bản chất của ho bao gồm ho khan và ho có đàm. Âm thanh của ho, có người ho to và mạnh, có người ho ít và rụt rè, có người ho nặng đục, có người khàn giọng. Màu sắc, chất lượng, số lượng và mùi vị của đàm cũng có những biểu hiện lâm sàng khác nhau. Chất đàm có màu trắng, vàng, xám, gỉ, hồng, v.v. Kết cấu của đàm loãng và dính. Có người lượng đàm ít thậm chí ho khan, có người có lượng đàm nhiều. Đàm có mùi rõ ràng hoặc không, cũng như đàm có mùi hôi. 

III. CHẨN ĐOÁN 

1. Triệu chứng lâm sàng chính là ho khan hoặc ho khạc nhổ 

2. Ho cấp tính, tổng số bạch cầu và bạch cầu trung tính trong máu ngoại vi tăng cao. 

3. Nghe phổi có thể nghe thấy tiếng thở dày ở cả hai trường phổi, hoặc ran ẩm rải rác. 

4. Phim X quang phổi kiểm tra bình thường hoặc kết cấu phổi dày lên. 

benh-chung-thuoc-dieu-tri-khai-thau
Bệnh chứng thuốc điều trị khái thấu (ho - viêm phế quản) - Hình minh họa b


IV. CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT 

1. Covid-19 là một dạng bệnh nhiễm trùng ở cả đường hô hấp trên và hô hấp dưới. Tác nhân gây bệnh này là chủng virus corona mang tên SARS-CoV-2. Đây là loại virus có tốc độ lây lan vô cùng nhanh chóng, tùy khả năng miễn dịch của từng người mà nó có thể gây bệnh lý nhiễm trùng ở mức độ nặng, nhẹ khác nhau. 
Virus corona có 7 chủng nhưng SARS-CoV-2 là chủng có diễn tiến khó lường, đã và đang gây ra đại dịch trên toàn cầu. Các chủng còn lại hầu hết chỉ gây ra cảm lạnh thông thường. 

2. Hen suyễn, thở khò khè, mặc dù ho cũng thường gặp, nhưng hen suyễn và thở khò khè là biểu hiện lâm sàng chính của chúng. Bệnh hen suyễn biểu hiện chủ yếu là thở khò khè ở cổ họng, khó thở, thậm chí thở khò khè không nằm được, khởi phát và thuyên giảm nhanh chóng. Hen phế quản biểu hiện chủ yếu là khó thở, há miệng ra và nhấc vai lên, mũi bị viêm, nằm không được. 

3. Phế trướng (tràn dịch phổi). Sưng phổi thường đi kèm với triệu chứng ho, nhưng sưng phổi có tiền sử ho mãn tính, thở khò khè, khò khè,… Ngoài triệu chứng ho còn có cảm giác tức ngực, thở khò khè, bứt rứt, hồi hộp, thậm chí mặt tối sầm. Phù chân tay và các triệu chứng khác, tình trạng kéo dài, khó lành theo thời gian. 

4. Bệnh lao. Ho là một trong những triệu chứng chính của bệnh lao, nhưng vẫn có các triệu chứng chính như ho ra máu, bốc hỏa, đổ mồ hôi ban đêm, cơ thể sụt cân, ... có thể lây lan.

5. Ung thư phổi. Bệnh ung thư phổi thường có triệu chứng chính là ho hoặc ho ra máu, nhưng chủ yếu xuất hiện ở nam giới hút thuốc trên 40 tuổi. Kiểm tra và xét nghiệm tế bào đờm có thể giúp xác định chẩn đoán. 

V. CHẨN ĐOÁN LUẬN TRỊ 

CHẨN ĐOÁN YẾU ĐIỂM 

1. Phân biệt ho ngoại cảm nội thương, ngoại cảm đa phần là bệnh mới, khởi phát nhanh, diễn biến ngắn và thường kèm theo hội chứng phế vệ. Ho do nội thương, phần lớn là bệnh mãn tính, hay tái phát, diễn biến bệnh lâu khỏi. 

2. Phân biệt chứng hậu hư thực, ho ngoại sinh chủ yếu dựa vào phong hàn, phong nhiệt, phong táo đều là chứng thực, ho nội thương chủ yếu dựa vào đàm ẩm, đàm nhiệt, can hỏa thuộc nội thương ho phần lớn là tà thực chính hư, âm tân khuy hao thuộc hư, hoặc trong hư có thực, Ngoài ra, những người ho to thì thực nhiều hơn, những người ho ít rụt rè thì hư nhiều; người có mạch mạnh là thực, người có mạch yếu là hư 

NGUYÊN TẮC TRỊ LIỆU 

Trị ho cần phân biệt tà chính hư thực. Ho do ngoại sinh, do tà khí làm tắc nghẽn phế khí (ủng phế), đa phần là thực, vì vậy nguyên tắc điều trị là khư tà lợi phế, tùy theo sự khác nhau của khí sinh bệnh, phong hàn, phong nhiệt, và phong táo, nên cần phân biệt các phương pháp như sơ phong, tán hàn, thanh nhiệt, nhuận táo. Ho thuộc nội thương đa phần thuộc tà thực chính hư, nên nguyên tắc điều trị là khứ tà phò chính, chú ý gốc ngọn, theo tác nhân gây bệnh là “đàm” và “hỏa”, trị tà tương ứng là hóa đờm và trừ hỏa, chính hư thì dưỡng âm hoặc ích khí là thích hợp, cũng nên phân biệt hư thực để xử lý giải quyết cái chính cái phụ. 

Trong điều trị ho, ngoài việc điều trị trực tiếp ở phế, cần chú ý điều trị tổng thể như tỳ, can, thận. Các cơn ho do ngoại sinh thông thường cần tránh xa tà khí, khi tình hình tốt hơn, phế khí tuyên thông ho sẽ ngừng; Ho nội thương nên phòng hao thương chính khí, chú ý điều hòa nội tạng, bảo vệ chính khí. Ho là một biểu hiện bệnh lý của cơ thể con người để loại bỏ các tác nhân gây bệnh, việc điều trị không được đơn giản là thấy ho giảm ho mà phải điều trị riêng theo từng nguyên nhân khác nhau. 

benh-chung-thuoc-dieu-tri-khai-thau
Bệnh chứng thuốc điều trị khái thấu (ho - viêm phế quản) - Hình minh họa c


Bệnh chứng thuốc điều trị đầu thống

BỆNH CHỨNG THUỐC ĐIỀU TRỊ 
ĐẦU THỐNG (ĐAU ĐẦU)

Đầu thống là một bệnh trong đó đau đầu là đặc điểm lâm sàng chính gây ra bởi do ngoại cảm và nội thương, khiến cho mạch lạc câu cấp hoặc thất dưỡng, thanh khiếu không thông. Đau đầu là một chứng bệnh thường gặp, đây cũng là một triệu chứng phổ biến, có thể xảy ra trong một loạt các bệnh cấp tính và mãn tính, và đôi khi là tiền đề làm nặng thêm hoặc làm xấu đi một số bệnh liên quan.

benh-chung-thuoc-dieu-tri-dau-thong
Bệnh chứng thuốc điều trị đầu thống (đau đầu) - Hình minh họa

Đông Y có một lịch sử lâu dài để hiểu về căn bệnh đau đầu và có một ghi chép về "căn bệnh" trong các bản khắc của nhà ân. “Nội kinh” gọi căn bệnh này là "não phong" và "thủ phong". “Tố Vấn - Phong luận” cho rằng nguyên nhân của bệnh này là do phong hàn tà khí bên ngoài xâm nhập vào đầu não gây ra. “Tố Vấn – Ngũ Tạng sinh thành” còn chỉ ra cơ chế bệnh sinh “đó là đau đầu trong bệnh điên, hạ hư thượng thực”. Đời Hán “Thương Hàn Luận” ở chương thái dương bệnh, dương minh bệnh, thiếu dương bệnh, quyết âm bệnh đã thảo luận trình bày chi tiết về biện chứng luận trị của ngoại cảm đau đầu. Đời Tùy “Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận” đã nhận ra rằng "phong đờm tương kết, đi lên vùng đầu” có thể gây đau đầu. Đời Tống “Tam Nhân Cực Nhất Bệnh Chứng Phương Luận” có sự hiểu biết đầy đủ hơn về chứng nội thương gây đau đầu, cho rằng "do khí huyết nghịch mà đau, do khí ngũ tạng uất kết mà đau”. Về sau đời Kim Nguyên, nhận biết về bệnh đau đầu ngày càng hoàn thiện. “Đông Viên Thập Thư” chỉ ra ngoại cảm và nội thương đều có thể gây nên đau đầu, căn cứ vào nguyên nhân và triệu chứng không giống nhau mà có như thương hàn đầu thống, thấp nhiệt đầu thống, thiên đầu thống, chân đầu thống, khí hư đầu thống, huyết hư đầu thống, khí huyết đều hư đầu thống, quyết nghịch đầu thống, còn bổ sung thêm thái âm đầu thống và thiếu âm đầu thống, do vậy giúp tạo điều kiện sáng tạo trong việc dùng thuốc trị đau đầu. “Đan Khuê Tâm Pháp” cho rằng đau đầu phần nhiều do đàm và hỏa. “Phổ Tế Phương” cho rằng: “khí huyết lưỡng hư, phong tà làm tổn thương kinh dương, đi vào trong não, thời sẽ đau đầu”. Đời Minh “Cổ Kim Y thống Đại Toàn – đầu thống đại pháp phân nội ngoại chi nhân” đối với bệnh đau đầu đã tổng kết nói: “đau đầu nguyên nhân từ bên trong là do khí huyết đàm ẩm, ngũ tạng khí uất, ông Đông Viên luận thuộc khí hư, huyết hư, đàm quyết đầu thống; từ bên ngoài gây bệnh là do, phong hàn thử thấp gây ra, Trọng Cảnh luận thuộc thương hàn, Đông Viên luận thuộc lục kinh” ngoài ra, tài liệu lịch sử có tên gọi là đầu phong, thực tế thuộc đầu thống. Chính như “Chứng trị chuẩn thằng – đầu thống” có nói: “sách thuốc đa phần phân đầu thống, đầu phong làm hai loại, nhưng cũng là một bệnh, chỉ có mới củ đi và lưu lại thôi. Nông mà gần gọi là đầu thống, đau này bỗng nhiên mà đến, cũng dễ giải tán nhanh; sâu mà xa gọi là đầu phong, đau này phát không thường xuyên, sau khi khỏi dễ tái phát lại. Phải xem xét kiểm tra tà đó đến từ đau mà trị.”

Chứng đau nửa đầu trong y học phương tây, cũng như phân loại quốc tế mới về chứng đau nửa đầu định kỳ, đau đầu do căng thẳng, đau đầu cấp tính cùng với đau nửa đầu mạn tính, v.v., bất cứ ai có đặc điểm của hội chứng đau đầu đều có thể tham khảo phần này để biện chứng luận trị.

I. CƠ CHẾ NGUYÊN NHÂN BỆNH

1. Cảm phải ngoại tà bên ngoài đa phần do lối sống bất cẩn, nằm ngồi hóng gió, cảm phải phong hàn thấp nhiệt bên ngoài tác động vào đầu, khí thanh dương bị cản trở, khí huyết không thông, ngăn cản kinh mạch mà gây nên đau đầu. Ngoại tà trong đó phong tà giữ vai trò chủ đạo, “thương vu phong giả, thượng tiên thụ chi”, “điên cao chi thương, duy phong khả đáo” “Những người bị tổn thương bởi gió, phần trên bị tổn thương trước”, “Trên đỉnh núi cao, chỉ có gió mới có thể chạm tới”. Nhưng “phong vi bách bệnh chi trưởng” "phong đứng đầu trăm bệnh", đứng đầu trong lục dâm, thường kết hợp với hàn, thấp, nhiệt gây nên bệnh. Phong hiệp với hàn, hàn là âm làm tổn thương dương, thanh dương bị chặn, hàn ngưng huyết trệ, mạch lạc truất cấp mà đau; phong hiệp với nhiệt, phong nhiệt thượng viêm, quấy nhiễu thanh không, khí huyết nghịch loạn mà đau; phong hiệp với thấp, thấp khí dính đọng, thấp khí che lấp thanh dương, đầu là “thanh dương chi phủ”, thanh dương không phân bố, khí huyết không thông sướng mà gây đau. Ngoại tà dẫn đến đau đầu, cơ chế bệnh này trong “Thiên Biển – Đầu thống” có nói: “Lục dâm ngoại tà, ba khí phong hàn thấp gây uất át dương khí, ba khí hỏa thử táo đều thuộc nhiệt, cảm phải nhiệt sẽ khiến mồ hôi thoát ra ngoài, trái với phong hàn thấp kết hợp không gây hại như vậy. Như vậy nhiệt lại sẽ làm khí ủng mạch đầy, mà đau.

2. Trầm cảm giận dữ căng thẳng tinh thần lâu dài, can khí uất kết, can mất sơ tiết, mạch lạc mất đi sự điều đạt thư thái gây đau đầu; hoặc thường ngày tính tình bạo nghịch, tức giận thái quá, khí uất hóa hỏa, lâu ngày can âm bị suy hao, can dương mất đi sự thu liễm mà bốc lên trên, khí ủng tắc mạch bị đầy, thanh dương bị rối loạn mà đau đầu.

3. Chế độ ăn uống mê đắm ham thích chất béo ngọt ngạy, ham ăn ham uống, hoặc lao thương tỳ vị, dẫn đến tỳ dương không phấn chấn, tỳ không thể vận hóa truyền thâu thủy dịch, tụ lại mà đờm tự sinh dẫn đến thanh dương không thăng, trọc âm hạ giáng, thanh khiếu được bao phủ bởi đàm thấp; Hoặc đàm làm tắc nghẽn mạch não, đàm ứ tý trở, khí huyết không thông sướng, đều có thể dẫn đến não mất đi sự sáng suốt, tinh huyết bị lấp chặn, mạch lạc mất đi sự nuôi dưỡng mà đau. Như Đan Khê có nói “đầu thống đa phần thuộc đàm”. Ăn uống làm tổn thương tỳ, khí huyết hóa sinh không đầy đủ, khí huyết không đầy đủ để cung cấp dinh dưỡng cho não, đó cũng là nguyên nhân cơ chế của đau đầu.

4. Nội thương bất túc tiên thiên bẩm phú bất túc, hoặc lao dục thương thận, âm tinh hao tổn, hoặc lão niên khí huyết suy nhược, hoặc bệnh lâu ngày không khỏi, sản hậu sau sinh mất máu, dinh huyết khuy tổn, khí huyết không thể thượng dinh lên não, tủy hải không đầy dẫn đến đau đầu. Ngoài ra, chấn thương té ngã, hoặc bệnh lâu năm mạch lạc không thông, khí trệ huyết ứ, lạc mạch thất dưỡng dễ gây đau đầu. Đầu là thần minh chi phủ, “chư dương chi hội”, “não vi tủy hải” huyết tinh hoa của ngũ tạng, khí thanh dương của lục phủ đều hội tụ ở đầu, nghĩa là đầu có liên quan mật thiết với âm tinh chất và dương khí ngũ tạng lục phủ, tất cả các yếu tố có thể ảnh hưởng đến tinh huyết, dương khí của các cơ quan nội tạng đều có thể trở thành nguyên nhân gây đau đầu, qui nạp lại không ngoài 2 loại ngoại cảm và nội thương. Mặc dù vị trí bệnh nằm ở đầu, nhưng nó có liên quan mật thiết đến can, tỳ và thận. Phong, hỏa, đàm, ứ, hư là những nguyên tố chính gây bệnh. Mạch lạc tắc nghẽn, thanh khiếu không thông; tinh huyết bất túc, não mất sự nuôi dưỡng, là mầm bệnh cơ bản của đau đầu.

II. BIỂU HIỆN LÂM SÀNG

Người bệnh cảm thấy vị trí đau đầu có thể đau trước trán, đau bên phải, đau bên trái, đau chính giữa đỉnh đầu, là một triệu chứng đặc trưng của bệnh. Theo Đông Y vị trí có thể khác nhau như ở thái dương, dương minh, thiếu dương hoặc ở thái âm, quyết âm, thiếu âm, hoặc đau toàn bộ đầu, nhưng đa số bị đau nửa đầu. Tính chất cơn đau có thể đau dữ dội do co rút, đau căng nhức, đau rát, đau như bị sưng căng tức, đau nặng đầu, đau như xé, hoặc đau trống rỗng, đau ngầm ngầm, đau tối tăm mặt mày vv... Kiểu phát bệnh đau đầu, có thể phát tác đột ngột, có thể chầm chậm. Thời gian đau có nỗi đau dai dẳng, đau không ngừng, đau rả rích liên tục, lúc phát lúc dừng. Tùy thuộc vào nguyên nhân, có các triệu chứng đau tương ứng đi kèm.

III. CHẨN ĐOÁN

1. Đau đầu là triệu chứng chính, vị trí đau có thể đau trước trán, đau bên phải, đau bên trái, đau chính giữa đỉnh đầu, và thậm chí là đau toàn bộ đầu. Bản chất cơn đau có thể đau căng nhức, đau như kim châm, đau như bị sưng căng tức, đau tối tăm mặt mày, đau ngầm ngầm, đau trống rỗng vv… Có thể phát tác đột ngột, có thể phát tác chầm chậm. Thời gian của cơn đau có thể từ vài phút, vài giờ, vài ngày hoặc vài tuần.

2. Nguyên nhân dẫn đến đau đầu có thể do ngoại cảm bên ngoài, nội thương bên trong hoặc do có bệnh sử phát tác.

3. Kiểm tra xét nghiệm máu, huyết áp, dịch não tủy, lưu lượng máu não và điện não đồ nếu cần thiết, và Doppler xuyên sọ, CT sọ não và MRI khi cần thiết, có thể giúp loại trừ các bệnh liên quan và chẩn đoán rõ ràng.

IV. CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT

1. Bệnh Trúng phong - Bệnh Trúng phong là bệnh phổ biến ở những người trên 45 tuổi, chóng mặt phát tái nhiều lần, đau đầu đột ngột trở nên tồi tệ hơn, thường kèm nữa bên người hoạt động không linh hoạt, hoặc nói năng ngượng nghịu.

2. Chân đầu thống - Chân đầu thống thường là một cơn đau đầu dữ dội đột ngột, thường được biểu hiện bằng cơn đau dai dẳng và nặng thêm, thậm chí với nôn mửa, chân tay lạnh, co giật.

V. BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ

A. BIỆN CHỨNG YẾU ĐIỂM

1. Việc xác định ngoại cảm nội thương có thể dựa trên các đặc điểm như phương thức gây bệnh, thời gian mắc bệnh, và bản chất của cơn đau. Ngoại cảm đau đầu, thường phát bệnh cấp tính, bệnh tình nghiêm trọng hơn, biểu hiện như đau dữ dội do co rút, đau căng nhức, đau như bị sưng căng tức, đau nặng đầu, đau không dừng, thường do ngoại tà gây nên. Nội thương đau đầu, thường khởi phát chầm chậm, cơn đau chậm hơn, biểu hiện chủ yếu là đau ngầm ngầm, đau trống rỗng, đau tối tăm mặt mày, cơn đau từ từ, gặp sự lao thương phát nặng hơn, lúc phát lúc dừng.

2. Xác định bản chất của nỗi đau giúp phân tích nguyên nhân. Đau dữ dội do co rút, đau căng nhức, đa phần do dương kháng, hỏa nhiệt gây ra; đau nặng đầu đa phần do đàm thấp; cảm giác lạnh mà đau như kim châm do hàn quyết; đau nhói cố định thường do ứ huyết; đau như bị sưng căng tức, đa phần do dương kháng (dương bốc lên); đau ngầm ngầm rả rích hoặc đau trống rỗng, đa phần do tinh huyết khuy hư; đau mà tối tăm mặt mày, đa phần do khí huyết không đầy đủ.

3. Xác định vùng đau đớn. Xác định vùng đau giúp phân tích nguyên nhân nội tạng kinh mạch. Nói chung khí huyết, can thận âm hư, phần lớn toàn bộ đầu đau; dương kháng lên đau ở vùng chẩm, đa phần liền với vùng cổ; hàn quyết đau ở đỉnh đầu; can hỏa đau ở hai thái dương. Theo kinh lạc mà nói, phía trước là dương minh kinh, phía sau là thái dương kinh, 2 bên là thiếu dương kinh, đỉnh đầu là quyết âm kinh.

4. Các yếu tố gợi lên tác nhân gây bệnh như mệt mỏi mà phát, chủ yếu là nội thương bên trong, khí huyết âm tinh bất túc; do biến đổi khí hậu mà phát bệnh, thường là hàn thấp gây nên; trầm trọng hơn do dao động tình cảm, và liên quan đến can hỏa (nổi giận); do uống rượu hoặc ăn quá nhiều làm nặng thêm, chủ yếu là dương thượng kháng lên trên; sau khi bị chấn thương mà đau, thuộc ứ huyết.

B. NGUYÊN TẮC TRỊ LIỆU

Điều trị đau đầu "có phân nội ngoại hư thực" ("Y Biển – Đầu thống"). Do ngoại cảm gây nên thuộc thực, trị liệu lấy khư tà hoạt lạc là chủ, do tính chất mỗi tà khí không giống nhau, cần phân biệt sử dụng các pháp như khư phong, tán hàn, hóa thấp, thanh nhiệt vv, ngoại cảm lấy phong làm chủ, vì vậy việc sử dụng phong dược được nhấn mạnh. Do nội thương gây nên thuộc hư, trị liệu lấy bổ hư làm chủ, tùy thuộc vào sự thiếu hụt của nó, sử dụng ích khí thăng thanh, tư âm dưỡng huyết, ích thận trấn tinh, nếu do phong dương thượng kháng pháp trị tức phong tiềm dương, do đàm ứ lạc trở thì dùng pháp hóa đàm hoạt huyết. Hư thực kiêm tạp, phò chính khư tà cùng lúc.

VI. PHÂN CHỨNG LUẬN TRỊ

A. NGOẠI CẢM ĐẦU THỐNG

1. PHONG HÀN CHỨNG

Chứng trạng: đau đầu phát bệnh nhanh gấp, với các cơn đau như búa bổ, đau xuống cổ gáy, sợ gió ớn lạnh, không khát, rêu lưỡi trắng mỏng mạch phù khẩn.
Trị pháp: Sơ phong tán hàn.
Phương dược: XUYÊN KHUNG TRÀ ĐIỀU TÁN
Bạc hà 2c, bạch chỉ 2c, cam thảo 1c, khương hoạt 1c, kinh giới 4c, phòng phong 2c, tế tân 1c, xuyên khung 4c.
Các vị thuốc tán bột mịn, mỗi lần uống 4 – 8g x 2 - 3 lần / ngày. Uống với nước trà.
Nếu dùng thuốc thang sắc thì uống 1 thang / ngày, uống lúc thuốc còn ấm, sau bữa ăn 30 phút, uống một liệu trình 10 - 15 ngày.
Nước nhất: 3 chén, sắc còn ¾ chén.
Nước nhì: 3 chén, sắc còn nữa chén.
Nước nào uống nước đó, hoặc hòa chung 2 nước đã sắc chia làm 2 – 3 lần uống trong ngày.
Trong phương xuyên khung, khương hoạt, bạch chỉ, tế tân phát tán phong hàn, thông lạc chỉ thống, trong đó xuyên khung hành khí ở trong huyết, khu phong ở trong phận, đi lên vùng đầu mắt, là chủ dược điều trị đau đầu do ngoại cảm; Bạc hà, kinh giới, phòng phong thượng hành thăng tán, trợ khung, khương, chỉ, tân sơ phong chỉ thống; nước trà bản chất lạnh đắng, phối hợp các thuốc phong có tính ấm khô, hình thành tác dụng sơ phong tán hàn, thông lạc chỉ thống.
Nếu nghẹt mũi nước mũi trong, gia thương nhĩ, tân di, tán hàn thông khiếu. Vai gáy (hạng bối) cứng đau, gia cát căn sơ phong giải cơ. Buồn nôn rêu cáu bẩn, gia hoắc hương, bán hạ để hòa vị giáng nghịch. Đỉnh đầu đau gia cảo bổn khứ phong chỉ thống, nếu đỉnh đầu đau nhiều, nôn khang, ói đàm dãi, thậm chí tứ chi quyết lãnh, rêu lưỡi trắng, mạch huyền, đó là hàn phạm quyết âm, trị nên ôn tán hàn tà quyết âm, phương dùng NGÔ THÙ DU THANG gia bán hạ, cảo bổn, xuyên khung, ngô thù du ôn can ấm vị, nhân sâm, khương, táo trợ dương bổ tỳ thổ, khiến âm hàn không vượt lên trên, toàn phương hiệp đồng có tác dụng ôn tán giáng nghịch.

benh-chung-thuoc-dieu-tri-dau-thong
Bệnh chứng thuốc điều trị đầu thống (đau đầu) - Phân chứng luận trị

Bệnh chứng thuốc

Hải thượng lãn ông

Tin tức

Chẩn pháp

Âm dương ngũ hành

Châm cứu

Dưỡng sinh

 

0905 136463

Chào bạn, bạn cần hổ trợ gì