Hoàng Đế nói:

Âm Dương là đạo của trời đất, là giường mối của muôn vật, là cha mẹ của sự biến hóa, là gốc ngọn của sự sinh sái, là cái kho chứa mọi sự thần minh Trị bệnh phải tìm tới gốc

9 dạng thể chất:

Thể chất mỗi người khác nhau dẫn đến tình trạng bệnh khác nhau, mỗi loại thể chất khác nhau, phương pháp phòng bệnh dưỡng sinh cũng khác nhau, nó cũng góp phần giúp thầy thuốc nhận định được thiên hướng gây bệnh nào đó trong các yếu tố gây bệnh của YHCT

Đại Y Thiền Sư Tuệ Tĩnh: "Nam dược trị nam nhân"

Ông nhấn mạnh tác dụng việc rèn luyện thân thể và sinh hoạt điều độ. Ông nêu phương pháp dưỡng sinh tóm tắt trong 14 chữ: "Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần - Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình"

Hải Thượng Lãn Ông:

“Suy nghĩ thật sâu xa tôi hiểu rằng thầy thuốc là bảo vệ sinh mạng cho con người, sống chết một tay mình nắm, hoạ phúc một tay mình giữ. Thế thì đâu có thể kiến thức không đầy đủ, đức hạnh không trọn vẹn, tâm hồn không rộng lớn, hành vi không thận trọng mà dám liều lĩnh học đòi cái nghề cao quý đó chăng”

Hải Thượng Lãn Ông:

"Đạo làm thuốc là một nhân thuật chuyên bảo vệ sinh mạng con người, phải lo cái lo của người, vui cái vui của người, chỉ lấy việc cứu sống mạng người làm nhiệm vụ của mình không nên cầu lợi kể công...”

Ngạn ngữ có câu:

“Cho thuốc không bằng cho phương”, vì thuốc chỉ cứu được một người, cho phương thì giúp đỡ người ta vô tận. Nhưng nghĩ cho kỹ, nếu trong phương có một vị không đúng thì hàng trăm nhà chịu tai hại. Huống chi viết lên sách, mỗi lời nói đều thành khuôn phép nhất định khó mà thay đổi được, nhỡ trong câu có điều sai lầm thì tai hại còn lớn hơn những bài thuốc nhiều

Hiển thị các bài đăng có nhãn Vần B. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vần B. Hiển thị tất cả bài đăng

Bổ khí huyết trục đờm phương

BỔ KHÍ HUYẾT TRỤC ĐỜM PHƯƠNG

Nhân sâm, hoàng kỳ, đương quy, bạch truật, mạch môn, chích thảo, quế chi, ma hoàng, bạch thược, ngũ vị, gừng 3 lát, táo 2q

bo-khi-huyet-truc-dom-phuong
Bổ khí huyết trục đờm phương - Bài thơ để nhớ và các vị thuốc trong phương

Sắc uống rồi sau uống xen với những bài bát vị, thập toàn, quy tỳ

Bài thơ dễ nhớ: (bài này sách xưa không có bài phương ca, bài thơ này do mình sáng tác để dễ nhớ)

Bổ khí huyết trục đờm phương
Bổ khí huyết trục đờm sâm, khương
Hoàng kỳ, bạch truật, mạch, vị, đương
Ma hoàng, quế chi, thược, thảo, táo
Tình chí uất ức đờm tự phướng

Bài này dùng nhân sâm để giữ nguyên khí nhiều hơn, hoàng kỳ để giúp cho ngoài biểu ít hơn, quy để dưỡng huyết, truật để bổ tỳ, môn để giữ tạng phế, vị để liễm phế, thảo để bổ tỳ. Các vị trên đều ít hơn nữa, quế để đi cơ thể, ma hoàng để đạt ra bì phu, thược để hoà tạng can và dẹp bớt tính mạnh của quế chi, ma hoàng

Bài này chủ chữa người bị hoạn nạn mà thất chí uất ức thành đờm, 6 bộ mạch huyền và tế mà sắc, ăn uống không đều hoà, phải ho nhổ đờm dãi cho hết mới nằm yên được, nếu không hết thời không yên. Tôi xét nội kinh có nói: Người trước quý mà sau hèn thời có chứng bệnh “thoát doanh”, người trước giàu mà sau nghèo thời có chứng bệnh “thất tình”. Những chứng ấy khí huyết hao dần, tinh thần không mở mang, thổ đờm không ngừng, tân dịch đã háo ở trong thời không quang nhuận ở ngoài, rồi cơ nhục gầy dần, ghê rét biếng ăn. Vệ khí để ấm cho cơ thể mà hộ vệ ở ngoài, doanh là âm để nhuận bì mao đi các kinh lạc, nay khí ở trong đã yếu mà lại thêm uất thời ngừng lại mà không tuyên thông. Khí đã không bảo vệ được ở ngoài biểu thời ghê rét, huyết không có khí để vận hành thời cơ thể khô, tạng tỳ không vận hành được thức ăn uống mà thành đờm, không những thớt thịt cơ thể khô ráo bế tắc, mà trong tỳ thiếu chân huyết cũng không mở mang ra được, một khi đờm đã nhiều thời tân dịch kiệt thêm

Tôi xét bài này dùng sâm, kỳ để bổ khí, quy, thược để bổ huyết, mạch và vị để liễm phế, ma hoàng và quế chi để đạt ra ngoài biểu, khí đã mạnh mà đạt đi được, thời tự nhiên không có đờm

Bổ huyết thanh nhiệt tiêu độc phương

BỔ HUYẾT THANH NHIỆT TIÊU ĐỘC PHƯƠNG

Sinh địa, đương quy, xích thược, đan bì, tỳ giải, thủ ô, kim ngân, liên kiều, hồ ma tử, thổ bối mẫu, mộc thông tiết, thổ phục linh, miết sắt, cam thảo

bo-huyet-thanh-nhiet-tieu-doc-phuong
Bổ huyết thanh nhiệt tiêu độc phương -  Bài thơ để nhớ và các vị thuốc trong phương

Các vị tùy nhiều ít sắc uống để chữa chứng người lớn LẠI SANG (HỦI LỞ) và trẻ khắp mình nở nhọt đau ngứa

Bài thơ dễ nhớ: (bài này sách xưa không có bài phương ca, bài thơ này do mình sáng tác để dễ nhớ)

Bổ huyết thanh nhiệt tiêu độc phương
Bổ huyết thanh nhiệt tiêu độc phương
Ngân, liên, tỳ, bối, địa, thược, đương
Hà, linh, đan, thảo, hồ, thông, thiết
Ung nhọt lở ngứa khắp người vương

Tôi xét ông LẬP TRAI có nói khí huyết suy mà hiện ra mọi chứng không biết tên là bệnh gì, nhưng người khéo chữa chỉ hiểu về khí huyết hư hay thực, chứng và mạch thực hay giả là đủ. Còn các chứng sang độc, cảm vào lục phủ mà phát ra bì phu hay cơ nhục, cảm vào ngũ tạng mà phát bởi kinh lạc hay cốt tủy cũng đều bởi khí huyết ngưng trệ, KHÍ HUYẾT CÓ DƯ THỜI SƯNG ĐỎ CAO LÊN MÀ LÀ DƯƠNG ĐỘC, NẾU KHÔNG ĐẦY ĐỦ THỜI VẪN BẰNG PHẲNG, KHÔNG SƯNG ĐỎ MÀ LÀ ÂM ĐỘC

Ông ĐAN KHÊ có nói âm ngưng trệ ở dương phận. Dương ngưng trệ ở âm phận, thời thành ra bách bệnh mà không cứ gì chứng ung thư. Nội kinh có nói: tà khí cảm vào là chính khí phải hư yếu, nếu ngừng lại mà không đi thời thành ra thực bệnh, vì âm dương không hoà, khí huyết ngưng trệ, dương khí không đủ thời hàn thấp ngưng trệ, âm huyết không đủ thời hoả bốc lên, huyết trệ mà khí loạn như thể nước chảy không được thông, khí huyết đã ngưng mà uất không theo về kinh lạc, thấm vào trong mạch, giàn ra ngoài mạch, mà thành ra HƯ HỘI (lỡ thối ra), GỌI TÊN ĐỘC LÀ KHÍ HUYẾT BẤT HOÀ, MÀ KHÔNG PHẢI TRONG KHÍ HUYẾT CÓ ĐỘC GÌ

Nhưng độc nhiều mà sưng lên, mà phát bệnh bởi xương tỷ kinh lạc, nếu không tìm ở trong thủy hoả âm dương thời không chữa được, mà các thứ nhọt nhỏ không tìm ở khí huyết mà chữa cũng vô ích. Thế mà thầy thuốc gặp chứng sang sũng (nhọt sưng lên) đều cho là tà khí cảm ở ngoài, mà là chứng hữu dư, rồi dùng thuốc hàn lương, thuốc thanh lợi, thuốc giải tán, bệnh nhẹ thời tà độc tán đi cũng có thể khỏi, còn bệnh nặng thời khí huyết lại hại thêm, ung nhọt ấy khó lớn lên mà khó vỡ ra, đến nỗi công vào trong

Tôi xét bài thuốc trên dùng quy, địa, thủ ô, để bổ huyết, đan bì, xích thược để mát chân huyết, tỳ giải, kim ngân, liên kiều, thổ bối, miết sắt, hồ ma, xích linh, mộc thông đều để tiêu độc, riêng vị mộc thông vừa tả hoả ở tạng tâm, vừa đem các vị thuốc tới chỗ ung nhọt

Bổ khí huyết tráng cân cốt phương

BỔ KHÍ HUYẾT TRÁNG CÂN CỐT PHƯƠNG

Nhân sâm, hoàng kỳ, đương quy, bạch truật, táo nhân, phục linh, bạch thược, tục đoạn, đỗ trọng, ngưu tất, bạch quế (quế mỏng)

bo-khi-huyet-trang-can-cot-phuong
Bổ khí huyết tráng cân cốt phương - Bài thơ để nhớ và các vị thuốc trong phương

Các vị tùy nhiều ít và thêm đại táo sắc uống

Bài thơ dễ nhớ: (bài này sách xưa không có bài phương ca, bài thơ này do mình sáng tác để dễ nhớ)

Bổ khí huyết tráng cân cốt phương
Sâm, kỳ, linh, truật, thược, quế, đương
Táo nhân, trọng, tất, tục, đại phương
Tay chân mềm yếu không có sức
Bổ huyết thêm tinh gân mạch cường

Bài này chủ chữa chứng khí huyết hư mà chân mõi yếu, bại liệt (nuy) nên uống xen với bài BÁT VỊ HOÀN mà thêm lộc nhung, đỗ trọng, ngưu tất

Tôi xét bài này là bài TỨ QUÂN bỏ cam thảo vì bệnh ở hạ bộ, lại trọng vị thuốc bổ huyết dùng quy, thược, mà không dùng thục vì đã uống xen với bài BÁT VỊ có thục, lại thêm kỳ và quế là tựa như bài THẬP TOÀN thêm táo nhân, đại táo là tựa như bài QUY TỲ, thêm đỗ trọng, tục đoạn, ngưu tất là chữa về gân cốt

Bổ trung dưỡng huyết thư cân phương

BỔ TRUNG DƯỠNG HUYẾT THƯ CÂN PHƯƠNG

Nhân sâm, bạch truật, đương qui, bạch thược, đỗ trọng, tục đoạn, ngưu tất, tần bông, quế chi

bo-trung-duong-huyet-thu-can-phuong
Bổ trung dưỡng huyết thư cân phương - Các vị thuốc trong phương và bài thơ để nhớ

Bài này vị truật nhiều hơn, còn các vị khác tùy nghi, mà quế chi ít hơn, để sắc uống

Bài thơ dễ nhớ: (bài này sách xưa không có bài phương ca, bài thơ này do mình sáng tác để dễ nhớ)

Bổ trung dưỡng huyết thư cân phương
Bổ trung dưỡng huyết thư cân phương
Truật, tần, sâm, quy, thược, tục nương
Trọng, tất, chi trị tà trúng lý
Chân tay đau nhức ngực bụng thương

Chủ chữa về chứng chân tay đau nhức, ngực bụng đau như vặn ra bởi tà trúng thẳng vào trong lý

Theo phương thuốc đời xưa thời có 5 chứng tê: bì tê (tê ngoài da), mạch tê (tê ở mạch), cơ tê (tê ở bắp thịt), cốt tê (tê ở xương), gân tê (tê ở gân). Chưa thấy nói TÊ Ở TẠNG PHỦ nhưng không biết NỘI KINH có nói: Hàn khí nhiều là thống tê (tê mà đau nhức). Lại nói: “Hàn lưu ở gân cốt thời đau nhức lâu, lưu ở bì phu thời dễ chữa, nếu vào đến TẠNG THỜI CHẾT” vậy không nên cẩn thận hay sao ?

Tôi xét chữa chứng phong phát từ trong ra (hư phong), thời dùng vị bổ huyết nhiều hơn, rồi giúp sức bằng những vị chữa phong mà thấm nhuần, còn bài thuốc này là chữa chứng hàn tà trúng thẳng vào trong lý, không những chân tay đau nhức, mà ngực bụng cũng đau, cho nên dùng thuốc bổ khí nhiều hơn thuốc bổ huyết như sâm và truật để cứu chân dương tức là dùng ngay thuốc ôn để bảo vệ

Bổ huyết điều khí thư cân hoạt lạc phương

BỔ HUYẾT ĐIỀU KHÍ THƯ CÂN HOẠT LẠC PHƯƠNG

Phục linh, bạch truật, đương quy, thục địa, bạch thược, thiên ma (nướng chín), ngưu tất, phụ tử chế, kim ngân, tần bông

bo-huyet-dieu-khi-thu-can-hoat-lac-phuong
Bổ huyết điều khí thư cân hoạt lạc phương - Các vị thuốc và bài thơ để nhớ

Sắc uống, nếu bệnh thế hơi hoãn, thì hòa với nhân sâm mà uống

Bài thơ dễ nhớ: (bài này sách xưa không có bài phương ca, bài thơ này do mình sáng tác để dễ nhớ)

Bổ huyết điều khí thư cân hoạt lạc phương
Tức phong*: thiên, tần, ngân khắc tinh
Thục, thược, quy, ngưu, truật, phụ, linh
Hoạt lạc thư cân bổ khí huyết
Nhi đồng lên đậu lại phát kinh

(Tức phong*: Chữa các chứng kinh giản co giật, miệng méo mắt lệch (khẩu nhãn oa tà))

Chủ chữa chứng trẻ em sau khi lên đậu mà khí huyết hư yếu lắm, phát ra chứng KINH GIẢN (kinh sợ co giật) vì uống lầm thuốc hàn lương hoặc thấm lợi, hoặc công phạt mà hư hoả bốc lên vô cớ ngã ra, cũng như chứng người lớn trúng phong, thời dùng bài này để bổ thật mạnh cho khí huyết, và thêm những vị để giãn gân và hoạt động cho kinh lạc

Xét những chứng chợt ngã ra không cứ thật là trúng phong hay là giống như trúng phong đều bởi âm hư khí yếu, nên phải bổ khí huyết mà thêm những vị kim ngân, thiên ma, tần bông dù là thuốc chữa phong mà có tính thấm nhuần, sỡ dĩ không dùng những vị khương hoạt, độc hoạt, tế tân là sợ thơm và ráo, háo đến âm huyết

Bổ âm liễm dương phương

BỒ ÂM LIỄM DƯƠNG PHƯƠNG

Nhân sâm, Thục địa, Mạch môn, Ngưu tất, Đan sâm, Phục thần, Bạch thược, Viễn chí, Thán khương

bo-am-liem-duong-phuong
Bổ âm liễm dương phương - Các vị thuốc và bài thơ để nhớ

Sắc uống

Bài thơ dễ nhớ: (bài này sách xưa không có bài phương ca, bài thơ này do mình sáng tác để dễ nhớ)

Bổ âm liễm dương: sâm, phục thần
Thục, tất, mạch, thược, đan, viễn, than
Cuồng táo mặt đỏ hư dương bốc
Âm vong dương thoát vãn hồi lần

Bài này chủ chữa chứng mặt đỏ bầng lên bất tỉnh nhân sự, nói mê, chân tay táo đồng, mạch thời hồng và đại, nâng cả ngón tay của người ấn mạnh trở lên, chứng này là chân âm không đầy đủ, hư dương bốc trở lên mà thận khí muốn thoát

Chứng này là chân âm mất ở trong mà dương thoát ra ngoài, cho nên mặt đỏ, nói dông, cuồng táo, mà mạch hồng, vì thế dùng âm dược mà thêm nhiều sâm để vãn hồi dương khí, sở dĩ không dùng truật và phụ, là sợ ráo đến âm phận, trong bài tứ vật chỉ dùng thục, thược mà không dùng khung, quy cũng là sợ tâm tán, vì theo chứng bệnh trên chỉ cần những vị thuần tĩnh để bổ âm liễm dương

Bảo sản vạn toàn thang

BẢO SẢN VẠN TOÀN THANG

Sâm 5c, quy 3c, khung 2c, đào nhân 13 hạt, can khương sao cháy 1c, chích thảo 1c, ngưu tất 2c, hồng hoa tẩm rượu sao 5 phân, nhục quế 6 phân, táo 2q

bao-san-van-toan-thang
Bảo sản vạn toàn thang - Các vị thuốc và bài thơ dễ nhớ

Bài thơ dễ nhớ: (bài này sách xưa không có bài phương ca, bài thơ này do mình sáng tác để dễ nhớ)

Bảo sản vạn toàn Sanh hóa gia
Sâm, quế, ngưu, hồng, táo đại địa
Điều khí dưỡng huyết thôi sinh thúc
Sản hậu huyết ứ - trệ ngưng lìa

Sắc uống lúc còn ấm

Bài này dùng những vị cam và ôn để điều bổ khí huyết, khí huyết mạnh thời tự nhiên thôi sinh

Xét bài này sâm và quy nhiều hơn là chủ trong bài thuốc, còn đào, hồng, khung, thảo, tiêu, khương thời ôn trung tán trệ. Ngưu tất, nhục quế để đem trở xuống, không những thôi sinh (thúc đẻ) được thần hiệu, mà cho người sản hậu uống chữa được những bệnh khí huyết ngưng trệ, vì bổ mà ôn thời không trệ mà không thành băng huyết, giáng mà kiêm cả thăng thời huyết hôi sạch, mà huyết mới sinh ra, bổ nhiều mà tả ít thời nguyên khí không hại

Lại xét bài này là do bài SINH HOÁ thêm sâm, quế, tất, hồng là vì lúc đẻ dụng lực mà có sâm thời mẹ con đều mạnh, có hồng hoa để thông huyết, ngưu tất để đem xuống, nhục quế để vận hành, trước lúc đẻ uống bài này có thể trục được ứ huyết so với bài sinh hoá thời công hiệu càng hơn

Bồi thổ cố trung phương

BỒI THỔ CỐ TRUNG PHƯƠNG
(Bổ Âm Tứ Quân Tử Thang)

Bạch truật 2l (khí hư tẩm hoàng thổ sao, huyết hư tẩm nước sữa sao); thục địa 1l (tỳ âm hư không sao, dương hư sao khô, đàm tẩm gừng sao); chích cam thảo 2c; can khương 2c (sao đen còn lõm hơi vàng)

boi-tho-co-trung-phuong
Bồi bổ cố trung phương - Các vị thuốc và bài thơ để nhớ

Bài này để chữa chứng âm hoả của tạng tỳ suy kém mà dương của dạ dày vượng lên, và những người ăn nhiều thức nướng, thức nóng hay uống nhiều thuốc thơm và ráo, hoặc ăn nhiều mà không tiêu hoá, hoặc dạ dày khô ráo không nạp được thức ăn, hoặc nôn oẹ đi cầu phân lỏng, hoặc tạng tỳ hư yếu không tàng được nguyên khí mà phát sốt, hoặc vì dạ dày nóng tân dịch khô mà thành những chứng ăn rồi lại nôn ra và chứng quan cách

Bài thơ dễ nhớ:
"Bồi thổ cố trung Tứ Quân phương
Thục địa, chích thảo, bạch truật, khương
Kiện tỳ dưỡng vị tàng nguyên khí
Âm hoả tỳ suy, dương vị vượng”

Phép gia giảm:
1. Trong bụng lạnh lắm đi cầu lỏng phân thêm: phục linh; phụ tử

2. Nôn oẹ vì hoả ngược trở lên thêm: ngũ vị; ngưu tất

3. Khí hư nguy cấp bỏ thục; thảo thêm: sâm; phụ

4. Khí xấu đem trở lên mà thành chứng hư bỉ, hư trướng (bí hay đầy mà chỉ là hơi thôi, không có thực thể) thêm: quế; phụ

5. Nôn oẹ không chỉ thêm: ô mai

6. Thương thực không tiêu hoá thêm: sa nhân; phụ tử

7. Đi lỵ lâu thêm: bạch thược; thăng ma

8. Đi cầu lâu không ngừng thêm: nhục đậu khấu; biển đậu; phục linh; thăng ma

9. Dạ dầy nóng mà táo khát thêm: mạch môn; ngũ vị

10. Huyết hư mà dạ dầy ráo thêm: quy; thược, quế

11. Âm hoả bốc trở lên bỏ thảo thêm: ngũ vị; ngưu tất; phụ tử

Bài thuốc này bổ cả âm dương cho tỳ thổ có thể gọi là bài "BỔ ÂM TỨ QUÂN TỬ THANG"

Tiên hiền đặt ra bài "Quy Tỳ"̀ bổ quân hoả để sinh ra tỳ thổ. Bài "Bát Vị" bổ tướng hoả để sinh ra tỳ thổ. Đến ông Đông Viên đặt ra bài "Bổ Trung Ích Khí" dùng thăng sài để đem dương khí trở lên đều là thánh dược chữa cho tỳ vị. Người không biết bỏ thăng sài đi hay là thêm vị ngưu tất, đỗ trọng, ý dĩ thế là không biết lẻ đem thanh khí trở lên để khí xấu giáng trở xuống

Nội kinh có nói: "tỳ vị thụ bệnh thời 12 kinh đều yếu". Ta gọi là vệ khí, là doanh khí, là nguyên khí đều là tên riêng của vị khí (khí của dạ dày) tôi gặp những chứng đã nguy thoát, thường dùng vị bạch truật để giúp sức cho sâm, phụ thời sức thuốc mới chóng. Bài thuốc này đã dùng vị bạch truật để bổ dương cho tạng tỳ, mà còn thêm vị thục địa để bổ âm cho tạng tỳ, là vì không những bổ tạng thận phải dùng vị âm dược mà bổ tạng tỳ cũng vậy. Sách tính dược gọi là thục địa hoàng cũng lấy cớ địa tức là thổ, mà hoàng là sắc của hành thổ vậy vị ấy có thể giúp cho âm phận của tạng tỳ mà ta đừng chấp nê là tạng tỳ ưa ráo ghét ẩm mà chỉ dùng những vị thơm và ráo để chữa tạng tỳ. Ví như đất phải có thấm nhuần thời cỏ cây mới mọc được

Hơn nữa dương của dạ dày thời chủ về khí, âm của tạng tỳ thời chủ về huyết. Nếu ta chỉ dùng những vị cay thơm, ráo, nóng để giúp tỳ vị thời hoả của dạ dày càng vượng mà âm của tạng tỳ càng hại, còn lấy đâu để vận hoá được

Sở dĩ bài thuốc này không dùng nhân sâm, phục linh là vì 2 vị ấy chỉ bổ cho dương khí của hậu thiên. Nay tôi đặt ra bài "bồi thổ cố trung" kể trên, là chú ý vào âm của tạng tỳ suy kém mà dương của dạ dày vượng lên. Có vị thục địa thời vị bạch truật bớt ráo đi, không dùng đến vị sâm là sợ vị sâm lại giúp cho hoả của dạ dày. Không dùng vị phục linh là sợ không có chất thấm nhuần đó là tôi gặp bệnh mà nghĩ ra chứ không phải là lập dị

Hiệu Phỏng Tân Phương - Hải Thượng Lãn Ông

Bảo hòa hoàn

BẢO HÒA HOÀN

Công thức:
Sơn tra 240g; Bạch linh 120g; Thần khúc 80g; Liên kiều 40g; Bán hạ 120g; Trần bì 40g; La bạc tử 40g

bao-hoa-hoan
Bảo hòa hoàn - Các vị thuốc trong phương
Cách dùng:
Các vị thuốc tán bột mịn, làm viên hoàn bằng hạt ngô, mỗi lần uống 4 – 8g x 2 - 3 lần / ngày. Uống với nước sôi để nguội hoặc nước sắc Mạch nha sao. Có thể làm thuốc thang lượng tùy theo bệnh lý.
Nếu dùng thuốc thang sắc thì uống 1 thang / ngày, uống lúc thuốc còn ấm, sau bữa ăn 30 phút, uống một liệu trình 10 - 15 ngày
Nước nhất: 3 chén, sắc còn ¾ chén
Nước nhì: 3 chén, sắc còn nữa chén
Nước nào uống nước đó, hoặc hòa chung 2 nước đã sắc chia làm 2 – 3 lần uống trong ngày.

Tác dụng:
Tiêu tích hòa vị, thanh nhiệt lợi thấp. Trị tích thực đình trệ, bụng trên đầy trướng, tức đau, chán ăn, đại tiện không thuận

Phân tích bài thuốc:
Bài thuốc thường được dùng để chữa chứng thực tích. Trong phương:
Sơn tra, La Bạc tử, Thần khúc đều có tác dụng tiêu thực nhưng Sơn tra chủ yếu là tiêu tích do chất dầu mỡ. La Bạc tử tiêu tích do chất đường bột thêm tác dụng giáng khí hóa đàm. Thần khúc tiêu thực do ngoại cảm ảnh hưởng chức năng tỳ vị đều là chủ dược.
Bán hạ, Trần bì, Bạch linh hành khí hòa vị hóa thấp.
Liên kiều tán thực trệ do uất nhiệt gây nên.
Các vị thuốc hợp lại thành bài thuốc tiêu tích hòa vị, thanh nhiệt lợi thấp.

Ứng dụng lâm sàng:
Bài thuốc chủ yếu trị chứng thực tích thường gặp ở trẻ em rối loạn tiêu hóa.

Gia giảm:
Thêm mạch nha tác dụng tiêu thực mạnh hơn
Mất ngủ gia: viễn chí, bá tử nhân, dạ giao đằng để ninh tâm an thần
Tích thực nặng: thêm chỉ thực, binh lang
Nếu thực tích kiêm tỳ hư gia Bạch truật, gọi là bài " ĐẠI AN HOÀN" (Đơn khê tâm pháp) có tác dụng tiêu tích kiện tỳ.
Nếu bài thuốc này bỏ Bán hạ, La bạc tử, Liên kiều gia Bạch truật, Bạch thược gọi là bài "TIỂU BẢO HÒA HOÀN" (Y phương tập giải). Tác dụng chủ yếu là kiện tỳ tiêu thực nhẹ hơn.
Nếu bài thuốc gia thêm Bạch truật, Hậu phác, Hương phụ, Chỉ thực, Hoàng cầm gọi là "BẢO HÒA HOÀN" (Cổ kim y giám) có tác dụng kiện tỳ tiêu tích hóa thấp thanh nhiệt.
Trường hợp kiết lỵ mới bắt đầu có chứng thực tích cùng có thể dùng bài thuốc này bỏ Phục linh, Liên kiều gia Hoàng liên, Binh lang, Chỉ thực để điều khí thanh nhiệt đạo trệ.

Trích lục: 
Xuất xứ: Đơn khê tâm pháp 丹溪心法 - Tác giả: Chu Đan Khê 朱丹溪 (1281-1358), danh y Trung Quốc đời nhà Nguyên

Xem thêm:

Bổ dương hoàn ngũ thang

BỒ DƯƠNG HOÀN NGŨ THANG

Công thức:
Sinh Hoàng kỳ 160g, Xích thược 8g, Đào nhân 8g, Đương qui vĩ 12g, Địa long 8g, Xuyên khung 8g, Hồng hoa 8g

bo-duong-hoan-ngu-thang
Bổ dương hoàn ngũ thang - Các vị thuốc trong phương
Cách dùng:
Sắc nước uống

Tác dụng:
Bổ khí, hoạt huyết, khứ ư, thông lạc. Trị liệt nữa người, miệng lưỡi méo lệch, mồm mép chảy nước dải, tiếng nói khó chậm rít hoặc không nói đựơc, tê nhiều liệt nữa người, di chứng trúng phong (tai biến mạch máu não)

Phân tích bài thuốc:
Bài thuốc này chủ yếu chữa di chứng trúng phong, khí hư huyết trệ, mạch lạc không thông gây nên "bán thân bất toại", nói khó, miệng mắt méo xệch. Phép trị chủ yếu là bổ khí hoạt huyết thông lạc.Trong bài:
Hoàng kỳ dùng sống lượng nhiều có tác dụng đại bổ nguyên khí là chủ dược.
Đương qui vĩ, Xuyên khung, Xích thược hoạt huyết hòa vinh.
Đào nhân, Hồng hoa, Địa long hóa ứ thông lạc, khí huyết được lưu thông phần cơ thể bị bệnh được hồi phục.

Ứng dụng lâm sàng:
Bài thuốc này chữa di chứng trúng phong (tai biến mạch máu não), động mạch viêm tắc do khí huyết đều hư.

Gia giảm:
Chú ý các vị thuốc hoạt huyết không nên dùng nhiều và lâu dài
Lâu ngày cơ teo nên chú ý gia thuốc bổ huyết dưỡng cân như Đương qui, Thục địa, Miết giáp, Bạch cương tàm để dưỡng huyết, cường tráng cơ thể.
Cơ thể hư hàn gia Thục phụ tử để ôn dương tán hàn.
Tỳ vị hư nhược gia Đảng sâm, Bạch truật để bổ khí kiện tỳ.
Đàm nhiều gia Chế Bán hạ, Bối mẫu, Gừng để hóa đàm.
Nói khó, tinh thần không tỉnh táo gia Viễn chí, Thạch xương bồ để khai khiếu hóa đờm.
Mình mẩy tứ chi tê gia mộc qua, thân cân thảo, phòng kỷ để thư cân hoạt lạc.
Thiên về chi trên, gia quế chi để thông lạc.
Chi dưới bại xụi không có sức, gia xuyên tục đoạn, tang ký sinh, đỗ trọng, ngưu tất để cường tráng cân cốt.
Tiển tiện không cầm được gia tang phiêu tiêu, ích trí nhân để ôn thận cố sáp.

Trích lục:
Y lâm cải thác - Tác giả: Vương Thanh Nhậm. Kinh nghiệm lâm sàng, hiệu quả thực sự tốt

XEM THÊM:

Bán hạ bạch truật thiên ma thang

BÁN HẠ BẠCH TRUẬT THIÊN MA THANG

Công thức:
Bán hạ chế 8g; Bạch linh 12g; Bạch truật 12g; Thiên ma 8g; Quất hồng 8g; Cam thảo 4g

ban-ha-bach-truat-thien-ma-thang
Bán hạ bạch truật thiên ma thang - Các vị thuốc trong phương
Cách dùng:
Cho thêm Gừng tươi 3 lát, Táo 3 quả sắc nước uống.

Tác dụng:
Kiện tỳ, trừ thấp, hóa đờm, tức phong.

Phân tích phương thuốc:
Bài thuốc này do bài Nhị trần thang gia Bạch truật, Thiên ma, thường dùng để trị chứng phong đàm, đau đầu, chóng mặt.
Trong bài:
Bán hạ, Thiên ma hóa đờm tức phong, trị đau đầu, chóng mặt là chủ dược.
Bạch truật, Bạch linh kiện tỳ trừ thấp để tiêu đờm.
Quất hồng lý khí hóa đờm.
Cam thảo, Sinh khương, Đại táo điều hòa tỳ vị.

Ứng dụng lâm sàng:
Bài thuốc chủ trị chứng đau đầu, chóng mặt, đờm nhiều, ngực đầy, rêu lưỡi trắng nhợt, mạch huyền, hoạt do phong đàm gây nên
Ngày nay dùng điều trị đau nửa đầu, cao huyết áp nguyên phát, bệnh mạch vành.

Gia giảm:
Trường hợp chóng mặt nhiều gia thêm Cương tàm, Đởm nam tinh để tăng tác dụng tức phong.
Trường hợp khí hư gia thêm Đảng sâm, Hoàng kỳ để bổ khí.

Chú ý:
Những trường hợp đau đầu, chóng mặt do Can dương thịnh âm hư không được dùng.

Trích lục:
Y học tâm ngộ - Kinh nghiệm lâm sàng, hiệu quả thực sự tốt

Xem thêm: 

Bát vị

BÁT VỊ THẬN KHÍ HOÀN

Công thức:
Thục địa 8c; Sơn thù 4c; Trạch tả 3c; Hoài sơn 4c; Phục linh 3c; Đơn bì 3c; Phụ tử chế 2c; Nhục quế 1c
Bat-vi
Bát vị - Các vị thuốc trong phương
Cách dùng:
Sắc nước uống, hoặc làm thuốc viên hoàn cứng hoặc viên tể

Tác dụng:
Ôn bổ thận dương

Giải thích bài thuốc:
Đây là bài thuốc chính chữa chứng thận dương hư .Trong bài:
Phụ tử, Quế chi ôn bổ thận dương là chủ dược
Thêm bài "Lục vị" tư bổ thận âm để điều hòa âm dương làm cho thận khí được sung túc thì các triệu chứng do thận dương hư gây nên như đau lưng, gối mỏi, phía nửa người dưới lạnh, tiểu tiện nhiều lần hoặc tiểu són, hoặc chứng hoạt tinh, di niệu tự khỏi

Ứng dụng lâm sàng:
1.Bài này chủ yếu chữa các chứng bệnh mạn tính, viêm thận mạn, suy nhược thần kinh, bệnh béo phì, liệt dương, tiểu đêm, người già suy nhược có hội chứng thận dương hư
2.Bài thuốc này gia thêm Ngưu tất, Xa tiền tử gọi là "TẾ SINH THẬN KHÍ HOÀN" (Tế sinh phương) có tác dụng lợi niệu, tiêu phù, dùng chữa chứng thận dương hư, cơ thể nặng nề phù thủng, tiểu tiện ít
3.Bài thuốc không dùng đối với những trường hợp có hội chứng thận âm bất túc như đau lưng, mỏi gối, người nóng ra mồ hôi trộm, mạch tế sác

Bổ dương tiếp âm phương

BỔ DƯƠNG TIẾP ÂM PHƯƠNG

Công thức:
Bạch truật 1,5l (sao hoàng thổ); thục địa 1l (đầy và trệ sao khô); bố chính sâm 1l sao gạo (hoặc nhân sâm 3c); phụ tử chế 2c; chích thảo 2c
bo-duong-tiep-am-phuong
Bổ dương tiếp âm phương - Các vị thuốc trong phương
Cách dùng:
Sắc uống

Tác dụng:
Trị hư lao, sợ lạnh ho hen, đờm dãi tắc nghẽn ở họng và chấn thuỷ không thông lợi, hình thể đen gầy, ăn uống kém dần, tiểu bí, tiểu gắt, đại tiện lỏng
Phàm các chứng dương hư 10 phần và âm hư đến 7 -8 phần thì dùng phương này bổ dương để tiếp âm

Gia giảm:
Mồ hôi nhiều: hoàng kỳ sao; ngũ vị
Mõi mệt nhiều mồ hôi, không đủ sức thở khát: mạch môn sao gạo
Đi tả nhiều: hoài sơn sao đen; nhục đậu khấu nướng lấy nhân
Đầy trướng: trầm hương
Hàn trệ: nhục quế

Xuất xứ:
Hiệu Phỏng Tân Phương của Lê Hữu Trác
***
Các vị thuốc tại Phòng chẩn trị chúng tôi có đầy đủ, quý khách có nhu cầu xin liên hệ: 0905 136463

Bổ âm tiếp dương phương

BỔ ÂM TIẾP DƯƠNG PHƯƠNG

Công thức:
Thục địa 3l; bạch truật (tẩm sữa sao) 1l; bố chính sâm (sao) 1,5l; can khương sao đen 3c; bạch thược sao đồng tiện 5c
bo-am-tiep-duong-phuong
Bổ âm tiếp dương phương - Các vị thuốc trong phương
Cách dùng:
Sắc uống, uống lúc thuốc còn ấm

Tác dụng:
Trị các chứng hư lao, sốt âm hâm hấp, ho không ngừng, gầy yếu, ăn ít, tiểu ít mà đỏ, đại tiện lỏng
Phàm các chứng âm hư 10 phần và dương hư đến 7 phần thì dùng phương này bổ âm để tiếp dương

Giải thích bài thuốc:
Thục địa làm quân để cứu âm; Bạch truật làm thần, hợp với Bố chính sâm để bổ trung ích khí; Bạch thược để liễm âm, tẩm với đồng tiện sao đen để làm cho hỏa tự giáng; Can khương để dẫn huyết dược vào phần huyết, dẫn khí dược vào phần khí. Như vậy vừa bổ được âm vừa tiếp được dương làm cho âm dương cân bằng lại

Gia giảm:
Ho ra máu: trắc bá diệp (đồng tiện sao); a giao (sao cáp phấn)
Không ngũ được: đương quy; táo nhân sao
Cầu lỏng: đương quy tẩm tửu sao
Có mồ hôi: đương quy; hoàng kỳ
Đoản khí ho: mạch môn, ngũ vị, ngưu tất (Cầu lỏng bỏ ngưu tất)

Xuất xứ:
Hiệu Phỏng Tân Phương Lê Hữu Trác
***
Các vị thuốc tại Phòng chẩn trị chúng tôi có đầy đủ, quý khách có nhu cầu xin liên hệ: 0905 136463

Bổ trung ích khí thang

BỒ TRUNG ÍCH KHÍ THANG

Công thức:
Hoàng kỳ 5c; Chích thảo 2c; Thăng ma 2c; Nhân sâm 5c; Đương qui 3c; Sài hồ 3c; Bạch truật 3c; Trần bì 2c; Gia: Gừng 3 lát, Táo 3 quả
bo-trung-ich-khi-thang
Bổ trung ích khí thang - Các vị thuốc trong phương
Cách dùng: 
Sắc nước uống, hoặc làm thuốc viên hoàn cứng hoặc viên tể 

Tác dụng: 
Điều bổ tỳ vị, thăng dương ích khí

Giải thích bài thuốc:
Là bài thuốc chủ yếu chữa tỳ vị khí hư hạ hãm, sinh ra triệu chứng sa nội tạng như sa dạ dày, sa tử cung, sa trực tràng hoặc chứng tỳ khí hư không nhiếp thống được huyết gây chứng rong kinh ở phụ nữ hoặc kiết lị kéo dài.
Trong bài:
Hoàng kỳ bổ trung ích khí, thăng dương cố biểu là chủ dược
Nhân sâm, Bạch truật, Chích thảo ích khí bổ tỳ kiện vị
Trần bì lý khí hóa trệ
Thăng ma, Sài hồ hợp với Sâm Kỳ để ích khí thăng đề
Đương qui bổ huyết hòa vinh
Các vị thuốc hợp lại thành bài thuốc có tác dụng bổ trung ích khí, thăng dương cố biểu làm cho tỳ vị được cường tráng, trung khí được đầy đủ

Ứng dụng lâm sàng:
Trên lâm sàng bài thuốc có thể dùng để chữa cơ thể vốn hư nhược dễ bị cảm mạo, mệt mỏi ra mồ hôi. 
Những trường hợp khí hư hạ hãm gây nên các chứng sa nội tạng như sa tử cung, sa thận, sa dạ dày, thoát vị bẹn hoặc sụp mi; dùng bài thuốc gia thêm Chỉ xác hoặc Chỉ thực có kết quả tốt. 
Trường hợp bệnh đường ruột mạn tính, rối loạn tiêu hóa kéo dài, cơ thể hư nhược có thể dùng bài này có hiệu quả tốt. 
Trường hợp do khí huyết hư nhược gây nên sốt kéo dài cũng có thể dùng bài thuốc này có kết quả, gọi là phép chữa" Cam ôn trừ đại nhiệt"

Các vị thuốc tại Phòng chẩn trị chúng tôi có đầy đủ, quý khách có nhu cầu xin liên hệ: 0905 136463

Bảo âm phương

BẢO ÂM PHƯƠNG

Công thức: 
Thục địa 2l; nhân sâm 1l; nhục quế 2c
bao-am-phuong
Bảo âm phương - Các vị thuốc trong phương
Cách dùng: 
Đổ 2 chén nước sắc còn 7 phân

Tác dụng: 
Cứu âm sinh tân

Lâm sàng: 
Trị nóng sốt lâu ngày gây vong âm, người gầy, bắp thịt teo, da thịt hâm hấp nóng, buồn phiền vật vả, không muốn ăn, khát nước, tự đổ mồ hôi, vị khí sắp hư bại

Xuất xứ: 
Hiệu Phỏng Tân Phương của Lê Hữu Trác

Gia giảm:
Tinh khô kiệt mà nhức xương: kỷ tử 1l
Cuống họng kho và đau: cao ban long 5c
Dương hư ghê rét; âm hư phát sốt: hà thủ ô 5c
Khát nhiều: mạch môn 3c; ngũ vị 1c

Bổ tinh ích lão tửu

BỔ TINH ÍCH LÃO TỬU

Công thức:
Thục địa 120g, Xuyên khung 40g, Toàn đương quy 120g, Bạch linh 40g, Cam thảo 20g, Kim anh tử 40g, Dâm dương hoắc 40g, Đỗ trọng 40g, Kim thoa thạch hộc 30g
bo-tinh-ich-lao-tuu
Bổ tinh ích lão tửu - Các vị thuốc trong phương
Cách làm:
Các vị thuốc trên nghiền thô, cho vào trong một bình chứa sạch, ngâm với 3 lít rượu ngon, đậy kín

Cách dùng:
Ngày uống 2 lần, sáng và tối, mỗi lần 10 ~ 20ml, uống lúc đói

Tác dụng:
Bổ hư tổn, ích tinh huyết, diên niên ích thọ. Trị hư lao, tổn thương, tinh huyết bất túc, gầy ốm, biếng ăn, thận hư, liệt dương, lưng đau, gối mỏi

Trích lục: Dược Tửu Nghiệm Phương Tuyển

Các vị thuốc tại Phòng chẩn trị chúng tôi có đầy đủ, quý khách có nhu cầu xin liên hệ: 0905 136463

Ba kích thục địa tửu

BA KÍCH THỤC ĐỊA TỬU

Công thức:

Ba kích (bỏ lõi) 60g, Cam cúc hoa 60g, Câu kỷ tử 30g, Phụ tử (chế) 20g, Thục địạ 60g, Thục tiêu 30g

ba-kich-thuc-dia-tuu
Ba kích thục địa tửu - Các vị thuốc trong phương
Cách làm: Sáu loại thảo mộc trên làm thô, cho vào trong bình sạch, ngâm với 3 lít rượu ngon

Cách dùng: Mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 15 – 20 ml, chưng nóng rượu uống lúc đói

Tác dụng: Bổ thận, tráng dương, dưỡng dung nhan, làm cơ thể mạnh khỏe

Trích lục: Dược Tửu Nghiệm Phương Tuyển - Kinh nghiệm lâm sàng, hiệu quả thực sự tốt

Các vị thuốc tại Phòng chẩn trị chúng tôi có đầy đủ, quý khách có nhu cầu xin liên hệ: 0905 136463

Bệnh chứng thuốc

Hải thượng lãn ông

Tin tức

Chẩn pháp

Âm dương ngũ hành

Châm cứu

Dưỡng sinh

 

0905 136463

Chào bạn, bạn cần hổ trợ gì